The Centaur in the Garden ( Moacyr Scliar )
Đồng hồ đã đã điểm đến 2 giờ 30 phút sáng. Và rõ ràng là tôi đã chẳng thể nào ngủ được. Tôi vừa đọc một mạch hết hơn 400 trang của Con nhân mã trong vườn. Nói là “không ngủ được” thì cũng không hẳn là chính xác, vì sự thực là tôi nghĩ mình đã thức giấc mất rồi, sau khi vừa trải qua một cơn mơ dài, rất dài, với tất cả những chuyện mà tôi đinh ninh là “không thể nào có thật trên đời”.

Đây là lần đầu tiên tôi đọc một kiểu tiểu thuyết lạ lùng chưa từng thấy. Và sự “chưa từng thấy” này thể hiện ở nhiều mặt : cốt truyện, kết cấu, tuyến nhân vật, và đặc biệt hơn nữa, trí tưởng tượng mênh mông bát ngát lồng vào cái thần thoại huyền hoại ẩn nấp một cách rõ ràng đến mức có thể nhìn xuyên thấu của tác giả. Ừ thì, tôi cứ mặc nhiên công nhận rằng có lẽ mình đã bị phép thuật của Sliar mê hoặc có hơn không ? Nhưng, còn hơn cả mê hoặc. Scliar đem đến cho tôi những thứ còn hơn thế. Với một cuốn sách mà tôi không biết phải dùng từ gì cho chính xác và tổng quát nhất để nói về nó, tôi chỉ có thể nói rằng, có lẽ trong một khoảnh khắc nào đó, nó đã tan biến trong tôi, và chúng tôi rất có thể đã từng tồn tại song song nhau ở cùng một thời điểm.
Guedali, con Nhân mã trong vườn, gần với tôi đến mức như hơi thở của anh ta đang phà vào mặt tôi vậy. Câu chuyện xảy ra giản dị và êm thắm tựa như một lời bộc bạch, khiến tôi cảm thấy có phần hơi khó hiểu ở đoạn mào đầu. Và rồi Nhân mã. Thứ được miêu tả là một sinh linh huyền thoại, một sinh vật nửa người nửa ngựa vốn trước giờ chỉ có trong các truyền thuyết Hy Lạp cổ đại, hay sâu hơn nữa, trong sự hình dung lạ lẫm và ngạc nhiên của trí tưởng tượng con người, xuất hiện. Cách xuất hiện không bình thường của một kẻ không bình thường, và những phản ứng hoàn toàn bình thường của những con người rất đỗi bình thường xung quanh nó. Nó đến với thế giới này trước tiên bằng sự mong đợi háo hức của tất cả những người thân yêu và mở mắt ra sau những cái nhìn kinh hãi, lạnh lùng của cha nó, anh chị em nó và cú choáng váng đến nỗi ngất đi suốt mấy ngày liền của mẹ nó. Nó chẳng biết gì cả, và nó không có tội gì cả. Nhưng cay đắng thay, cái sự chẳng biết gì vô tình lại trở nên có tội, trong chính bản thân và hình hài của nó. Guedali, tên con Nhân mã, theo một cách nói nào đó, có thể là kẻ không may, cũng có thể là kẻ đáng nguyền rủa, một sinh vật không nên có mặt trên đời, cho dù nó đích xác là một sinh vật huyền thoại. Thế đấy, trong khi người Hy Lạp tôn sùng những vị thần nửa người nửa ngựa dũng mãnh tuyệt đẹp của họ, thì Guedali nhận ra mình đáng là thứ bị tống khứ đi khỏi cái thế gian này.
Vấn đề ở chỗ là Guedali nhận thức rõ sự khác biệt sâu sắc giữa mình với người – những con người xinh đẹp, và họ, dưới mắt anh ta, xinh đẹp vì hoàn chỉnh. Đó là cái mà nó, một con Nhân mã, ao ước đến phát điên lên, mà vẫn không được. Nhưng như thế thì có sao. Bù lại Guedali có vẻ ngoài dễ coi, sự thông minh chăm chỉ và hơn nữa, một bộ chân khỏe mạnh đính trên nửa phần thân sau cường tráng, những cái giúp nó có thể phi nước đại trên thảo nguyên Nam Mỹ tươi đẹp và đầy nắng gió với tốc độ mà bất cứ chàng cưỡi ngựa nào cũng đều mơ đến. Phi nước đại, đó là một điều hay, và cũng là điều khiến Guedali hạnh phúc. Một cách nào đó, có thể nó đã từng hạnh phúc vì nó có, một chút, khác người. Với tôi, đó dù sao vẫn là một sự khác người đáng yêu ở một con Nhân mã. Nhưng không phải người nào cũng trông thấy sự đáng yêu đến ngạc nhiên đó. Guedali sống trong nỗi lo sợ nơm nớp của những người trong gia đình về sự phát hiện của những kẻ xung quanh. Thời đó, người Do Thái vẫn chưa được chấp nhận hoàn toàn. Thêm vào nữa là mâu thuẫn với người anh cả, Bernado. Guedali có một dự cảm mãnh liệt là anh không thể tiếp tục một kiếp sống chui rúc như thế này nữa, cho dù đó là cuộc sống bình an, thảnh thơi trong sự bảo bọc tuyệt đối của gia đình, những người mà anh yêu mến nhất. Hơn nữa, có một chuyện bất ngờ đã xảy ra với anh – đó là việc anh thầm thương trộm nhớ một cô gái. Đó là điều cấm kỵ, nghe cứ như tình yêu giữa Adam và Eva. Guedali ngắm trộm cô ta qua viễn vọng kính, mơ tưởng này nọ, ngồi hàng giờ ngơ ngẩn, nuôi bồ câu đưa thư, v.v… tóm lại là anh ta đang làm tất cả mọi chuyện vơ vẩn nhất trên đời. Anh ta biết tương tư, biết đau khổ, và biết gục ngã khi trông thấy một người đàn ông bước đến chỗ cô ta trên sân thượng và họ âu yếm nhau. Anh ta phát ốm. Và anh ta phát ngán. Anh ta muốn tự mình giải thoát cho mình khỏi sự ràng buộc này.
Tất cả chỉ vì anh ta là Nhân mã.
Thế rồi, mọi chuyện tiếp theo diễn biến thật nhanh. Guedali nhận ra cuộc sống tù ngục hoàn toàn trái ngược với những thèm khát ẩn sâu đằng sau cái ước nguyện tưởng nhỏ bé và điên rồ nhưng sẽ là một bước ngoặt lớn trong đời anh : lấy lại sự hoàn chỉnh của một con người và làm tình như một tên đàn ông. Rõ ràng, Guedali-Nhân mã đã định hình được trong đầu cái tương lai của mình những điều anh muốn làm, những thứ mà anh muốn trở thành, và những cái mà anh hướng đến. Nhân mã cũng được quyền sống và được quyền ước mơ chứ, và để được chấp nhận, để được sống và ước mơ, để hòa đồng vào xã hội Do Thái và thế giới đầy biến động, Guedali chấp nhận rời bỏ phần thân thể không-giống-ai của mình. Anh bỏ nhà đi, rong ruổi tháng ngày trên khắp các đồng cỏ, phi nước đại cho đến khi cả bốn chân đều rã rời và đi đến những vùng đất xa lạ mà anh chưa từng biết đến. Anh đã đi rất nhiều nơi, đã gặp rất nhiều người, gây ra nhiều chuyện, thường nhật cũng có mà lạ lùng cũng có. Người-đàn-ông-Nhân-mã trải qua lần đầu tiên làm tình với một con người, một đàn-bà-con-người, để tìm mọi cách thỏa mãn dục vọng điên cuồng của mình, nhưng không thành công, vì nói gì thì nói, anh ta vẫn là Nhân-mã. Anh ta làm cho mọi người phát cuồng, rồi sau đó làm họ kinh hãi, và cuối cùng, khiến họ chĩa súng vào anh ta khi phát hiện ra sự thật về anh. Mọi việc có vẻ đều ổn thỏa khi Guedali tìm được một Nhân-mã-cái, một cô gái xinh xắn tên là Tita, sống cùng cô, làm tình với cô, và sau đó cả hai được Dona Cotinha đưa sang Morroco để phẫu thuật. Như thế là xong, mọi vấn đề được giải quyết, và Guedali những tưởng mình đã có thể có một cuộc sống hạnh phúc kể từ ngày anh không còn trông thấy cái hông to lớn của mình ngúng nguẩy trên bốn chân móng sắt và cái đuôi óng ả như lụa nữa. À, và tới đây thì, câu chuyện đã sẵn sàng rẽ qua một hướng khác.
Guedali – Cựu Nhân-mã-đực.
Đó là một thế giới thu nhỏ của những rắc rối mà một cựu Nhân mã phải đối đầu. Công việc, gia đình, hai đứa con sinh đôi với Tita, một hình hài đang dần dần trở nên hoàn chỉnh, những người bạn tốt và đáng tin cậy, một con Nhân-mã-đực khác, một con Nhân-sư-cái… tất cả mọi thứ xuất hiện và xoay vòng trong cái suy nghĩ đã già dặn hơn rất nhiều nhưng thỉnh thoảng vẫn không giấu nổi những sự bồng bột trẻ con của Guedali. Đã có lúc anh ta muốn lại trở thành Nhân-mã như ngày xưa, và rồi anh ta sợ hãi. Vợ anh ta, Tita, quan hệ với một con Nhân-mã-đực khác, trong hình dáng con người, và anh ta cũng thế, nhưng với một con Nhân-sư-cái. Mọi chuyện tưởng chừng như đã có lúc rối tung lên. Mọi sự rối tung quay quanh những loài sinh vật lẽ ra đã là huyền thoại. Tôi sẽ cảm thấy đau đầu, cảm thấy chóng mặt, nhưng tôi biết mình sẽ không bao giờ cảm thấy chán nản với Guedali. Cuộc sống là những chuỗi ngày dai dẳng và mâu thuẫn đối nghịch, và chính vì thế anh ta luôn phải phi nước đại để níu kéo nó. Và cũng vì, mỗi con người đều có riêng cho mình một cách phi nước đại, Guedali đã lựa chọn, với tư cách một con người, bằng việc trút bỏ lốt Nhân-mã, về mọi mặt, cho dù nó có phải là quá khứ của mình hay không. Anh ta muốn mình chỉ từng là Nhân-mã, ngoài ra, không hơn.
Anh ta có thành công hay không ? Câu trả lời nằm ngay trong sự phi nước đại của anh ta. Scliar đã không nói ra điều đó. Đoạn cuối cùng, ông kể lại một câu chuyện hoàn chỉnh quay quanh Guedali, với giọng kể đắc thắng và tự nhiên của Tita, vợ anh. Guedali đã thực sự là một con người, và cuộc đời đầy biến động của anh chẳng khác nào một đoạn phim quay chậm. Tôi thích điều đó. Thân phận và số phận của Guedali không nhất thiết phải rõ ràng và mặc định phải đi theo một con đường nào cả. Và, chính xác là như thế, tôi thích Guedali ở trong đoạn kết này, cười nói theo kiểu con người và quan sát một người phụ nữ theo kiểu con người.
Như con ngựa có cánh sắp cất vó bay lên về phía những ngọn núi hoan lạc vĩnh hằng, về phía bộ ngực của Abraham. Như con ngựa với những bộ móng đang nhảy múa, sẵn sàng phi nước đại qua thảo nguyên. Như con Nhân mã ở trong vườn, sẵn sàng nhảy qua tường rào để tìm kiếm tự do.
Tự do, không chỉ là hy vọng và nỗ lực của người Do Thái, của Guedali mà còn là của những ai thực sự muốn vươn tới và nắm bắt được nó. Đó là cách mà con người, theo đúng nghĩa đen, nhìn nhận sự tồn tại của mình. Một cái kết hay theo đúng phong cách Scliar.
Con Nhân mã ở trong vườn.
Nếu ai đó hỏi tôi rằng tác phẩm này có thực sự gây chú ý ngay từ những dòng đầu tiên hay không, tôi sẽ rất thẳng thừng trả lời là hoàn toàn không. Văn phong lạ lẫm của một người Brazil, cách xử lí cốt truyện theo vòng tuần hoàn, có xuất hiện chủ nghĩa cá nhân ( vốn là cái mà tôi không hề ưa thích ), tự do tín ngưỡng và tôn giáo, những nghi thức của người Do Thái xa lạ, và cuối cùng, một con Nhân mã, được tung ra như thể muốn níu kéo lại sự quan tâm của tôi hơn là muốn gửi gắm một thông điệp gì đó như các tác phẩm khác. Tôi đã đọc tiểu thuyết này với tất cả sự tò mò của mình hơn là một sự đam mê và yêu thích. Nhưng chính cái tò mò ấy đã dẫn đường và mở ra một lối đi cho sự đam mê yêu thích của tôi, sau đó, biến chúng thành cuồng nhiệt. Bằng một cách nào đó, Moacyr Scliar đã khéo léo biến những cái ngáp dài ngáp ngắn ban đầu của tôi thành ba giờ đồng hồ ngắn ngủi mà khó quên của một giấc mơ. Giấc-mơ-mà-tôi-thậm-chí-còn-không-biết-đến-sự-hiện-diện-của-nó.
Moacyr Scliar, một bác sĩ y khoa tình cờ trở thành một tiểu thuyết gia. Bằng tất cả lòng chân thành và sự trân trọng của tôi, tôi xin cảm ơn ông vì đã viết Con nhân mã trong vườn, một quyển sách xứng đáng chiếm một vị trí quan trọng trên tủ sách mà tôi yêu thích. Ông đã chứng minh rằng những sự so sánh tầm thường, cố gắng loại bỏ một cái gì đó khác biệt, hay hơn thế nữa, những sự “hơn người” và lòng kiêu ngạo sẵn có sẽ chẳng làm nên được trò gì nếu thiếu niềm tin. Dưới ngòi bút giản dị mà quyến rũ và đầy thuyết phục, con Nhân mã hiện lên trong tiểu thuyết của Scliar như một hình hài bé bỏng và chân thật vẫn thường nép mình sau mỗi “chúng ta”. Là một con người không hoàn chỉnh, Guedali thiếu cái mà chúng ta có, và có cái mà chúng ta thiếu. Mặc dù vậy, trên hết, anh vẫn có một thứ ý chí đáng phục và tâm hồn trong sáng, chân thật đáng yêu. Nghĩ đến người khác một cách tự nhiên, luôn dằn vặt mình theo đúng kiểu của một Nhân-mã-muốn-trở-thành-người, và sau đó, đã có lúc tự chôn vùi mình trong mớ hỗn độn về nguyên nhân của mọi việc và mục đích sống, những cái đó đã khiến tôi yêu thích nhân vật này hơn Tita – nàng Nhân-mã-cái. Không phủ nhận rằng Tita đáng thương và nhạy cảm, nhưng tôi nghĩ, ở nàng, ở một phương diện nào đó, về lối sống và cách nhìn nhận, nhân vật này vẫn còn mang vẻ bi quan chán nản và dường như luôn gặp khó khăn mỗi khi đối diện với sự thật. Cô có lẽ đã không đủ tự tin để vượt qua nếu không có một người bạn đời như Guedali bên cạnh. Tuy nhiên, dù gì đi nữa, vì những điều mà Thượng đế không hề ưu ái khi chọn lựa một kiểu hình dáng cho họ, vì những gian khổ mà họ phải chịu đựng, suy cho cùng, họ vẫn xứng đáng được hưởng hạnh phúc. Hạnh phúc “làm người”.
Nói như Trịnh Lữ - người dịch tác phẩm này thì :
“…Sau khi đã gập sách lại, đặt nó lên giá, tôi bắt đầu thấy vấn vương, mỗi lúc mỗi sâu xa, với những ý tưởng mà cảm xúc mà câu chuyện ấy đã mang đến cho mình. Tôi thấy mình cũng giống như Guedali. Nhân vật chính trong truyện, suốt đời thèm được mọi người chấp nhận, cố hết sức để có được điều đó, để khi có rồi lại điên cuồng nhớ tiếc con người thật của mình…”
Và, tôi đặc biệt thích những dòng bộc bạch chân thật và cởi mở sau đây của Trịnh Lữ :
“…Đấy, nếu bạn đã nhiều lúc phải giấu diếm dẹp bỏ những cái độc đáo khác biệt của mình để có được sự chấp nhận của mọi người, và thường khắc khoải về điều đó, thì Con Nhân mã ở trong vườn là câu chuyện tâm đắc của bạn… Và mọi thứ Tình ấy trong Con Nhân mã ở trong vườn đều hồi hộp phập phồng chất nhục cảm phóng khoáng tự nhiên, với những bản năng tuôn trào khôn cưỡng, những thèm khát bạo liệt và những dịu dàng thơ mộng, những mưu mô tinh quái và ân hận nhầu nát, những lí tưởng ngây thơ và thực tại phũ phàng, những tình huống huyền thoại mà xù xì sặc sụa ngay trước mặt; nói tóm lại, những cái rất là “chúng ta”. …Và, chính cái chất hài hước bao dung và không hề làm dáng ấy của câu chuyện đã khiến cho người đọc, khi gập sách lại, cảm thấy cuộc đời vẫn đáng sống…”
Bản năng và cuộc sống, ấy là hai thứ mà tôi và bạn, và tất cả những người khác không dễ dàng gì chối bỏ. Tôi có lẽ sẽ để tâm tới sự kì thị, nhưng tôi sẽ không khước từ những sự khác biệt và khả năng mà tôi sẵn có. Tôi nên tự hào về điều đó, vì những điều khác biệt có thể làm nên một con người. Điều quan trọng là tôi có nhận ra được sự khác biệt đó, trân trọng nó hết mức mà tôi có thể và tìm mọi cách phát huy nó theo một chiều hướng tốt hay không. Và tôi tin vào sự phán quyết của mình. Cũng như Guedali, cũng như Con Nhân mã ở trong vườn, cứ hãy nỗ lực hết mình, để rồi sẽ có ngày vươn cánh bay lên, bay một cách thoải mái và tự do bằng chính đôi cánh trên lưng, bên trên những thảo nguyên hoang vu lộng gió.
Moacyr Scliar, ông đã nghĩ gì khi viết Con Nhân mã trong vườn ? Ông nghĩ gì khi khuyên những người đọc của ông hãy cứ vui sống và chấp nhận những khác biệt quanh mình cho đến một ngày họ có thể nói : BÂY GIỜ KHÔNG CÒN PHI NƯỚC ĐẠI NỮA. BÂY GIỜ, MỌI THỨ ĐÃ ỔN CẢ RỒI ? Tôi chẳng biết được, và có thể là tôi cũng chẳng bao giờ được biết. Nhưng với tôi, Scliar đã thành công, về mọi mặt. Tôi chắc chắn rằng người đọc của ông sẽ nhớ mãi tên ông, cũng giống như Yann Martel – chúng tôi là những người đã mắc nợ ông vì “cái tia lửa sự sống” mà ông đã thổi vào từ mọi góc độ của quyển tiểu thuyết. Khi đọc Moacyr Scliar, tôi sẽ không bao giờ quên cái sức hấp dẫn của thứ tình yêu cuộc sống mãnh liệt và dồi dào. Cái gì cũng phải làm hết mình, cái gì cũng phải cố gắng hết sức, không được từ bỏ hy vọng chỉ vì không có quyền hy vọng, và sử dụng sự khác biệt như một điểm nhấn mà chỉ riêng bản thân mình mới có. Tạo hóa làm nên con người, nhưng không thể áp đặt con người. Bản thân Guedali, với sự lạc quan và kiêu hãnh, đã là thông điệp đáng giá. Chính vì vậy, những câu chuyện của Scliar đi vào lòng tôi rất nhẹ nhàng mà không cần gõ cửa. Đặt quyển Con Nhân mã trong vườn xuống bàn, tôi ngồi đây, nhìn ra phía chân trời xa kia một màu xanh ngắt, và thực sự tin rằng mình đã nhìn thấy, hẳn hoi, một con ngựa có cánh, hệt như trong huyền thoại của ông.
Sự phức tạp của lũ trẻ
Sự phức tạp của lũ trẻ
Author: yu chan
Genres: Angst, Dark, Spiritual, Horror (a bit), Oneshot
Warning: s*x, một tí ở đọan cuối *o*
Rating: M+
Summary: là đấy, sự phức tạp của lũ trẻ..
1.
Nalia ngồi vắt vẻo trên cành, ngó mải miết qua khuôn cửa sổ nhà bên cạnh.
Lúc lắc hai bím tóc, con bé sờ sẫm các cành nhánh mong tìm được một chỗ vịn thích hợp hơn, để nhìn rõ thêm mục tiêu qua lòa xòa cành lá.
Rồi nó thấy một cái đầu xám tro ló qua khuôn cửa, đang tìm kiếm gì đó bên cạnh giường ngủ. Nalia rụt người lại, hồi hộp, lặng lẽ quan sát, trông như một con thú nhỏ run rẩy trong bụi chăm chăm ngó lòai đi săn.
Đột ngột khuôn mặt có mái tóc xám tro ấy quay ngoắt về phía cửa sổ, nhìn hẳn về con bé, khiến tim nó đập lỗi một nhịp.
Đó là một khuôn mặt của một cậu bé dễ thương, mắt xanh sáng, mái tóc quăn màu xám tro, trông hồn nhiên vô chừng. Thế mà trong ánh mắt ấy vẫn như thỏang qua một cái nhìn ngơ ngơ nhưng đầy cảnh giác.
Rồi cậu lại lúi cúi tìm cái gì đó dưới giường. Nalia đợi một lúc lâu nữa, nhưng không còn thấy cậu ta xuất hiện trở lại.
“Có lẽ đã ra khỏi phòng rồi cũng nên…” Con bé lẩm bẩm, tuột xuống khỏi chạc ba, nhẹ nhàng nhảy lên mái ngói thấp trước nhà nó, lủi nhanh như một con sóc nhỏ.
Nalia đã để ý cậu bé nhà bên từ đầu.
Nó nhớ chính xác gia đình cậu chuyển về bên cạnh nhà nó vào lúc mười ba giờ hai mươi lăm phút ngày thứ sáu tuần trước, cách đây bốn ngày.
Đối với con bé, chuyện hàng xóm mới đến ở cạnh không còn là vấn đề gì lạ lẫm nữa.. Từ lúc nhận thức được, nó đếm thấy tới năm lần hàng xóm bên cạnh chuyển nhà, cả bên trái lẫn bên phải. Nếu nó nhớ không lầm thì hầu như lần nào dọn đến cũng có trẻ con trạc tuổi nó vào thời điểm đó, nhưng kí ức nó không khơi gợi được kỉ niệm gì ấn tượng. Họ đến rồi đi, một, hai hoặc ba năm gì đó; có nhà chỉ vài tháng ở lại, rồi gấp gáp dọn ngay, cứ như chỗ đất ấy bị yểm bùa. Nhưng chỉ sau vài tuần có người dọn đi thì lại có người dọn đến, vì ngay khu nó ở rất thóang đãng, tĩnh lặng, nằm cạnh hồ nước rất đẹp có hàng liễu rủ, lại không xa chợ búa trường học bao nhiêu…
Chỉ có lần này Nalia bị hút hồn khi lần đầu tiên nhìn vào ánh mắt xanh trong veo và mái tóc màu xám tro của người hàng xóm mới. Mười bốn tuổi. Không nhỏ cũng không lớn, nhưng đã biết đến thứ tình cảm lạ lùng trong sáng, khiến má đỏ hây hây, và cả không gian chung quanh như bừng lên rực rỡ.
Nalia có nhiều bạn, cả con gái lẫn con trai. Bạn bè trong lớp hầu như đều yêu mến nó, vì tính nó rất thóang, khá giống con trai, mạnh mẽ và thông minh, hòa đồng trong mọi trò chơi cũng như có khả năng giảng hòa kì lạ.
Có lần nó đỡ được một nhỏ bạn sơ ý té từ cầu thang xuống.
Có lần nó còn kéo một bà lão ra khỏi đường ray xe lửa.
Tách được hai con chó cắn nhau đến xác xơ.
Và giải được bài tóan mà cả lớp không ai có đáp án
Nhưng nó biết, mọi thứ không hòan hảo, rằng bản thân nó không đối xử bằng cảm giác chân thật với bạn bè, ngay cả gia đình, rằng nó chỉ biết nó làm mọi chuyện chỉ vì nó cần phải làm thế. Có một thứ giác quan gọi là bình thản trong nó, bình thản ở mọi lúc, giống như một bản thể khác vẫn chiêm ngắm nó từ xa.
Làn da của Nalia rất lạ.
Hầu như mọi lúc đều bình thường, trừ những khi nó xúc động. Vào những lúc ấy làn da trên cánh tay nó tái đi, xạm như màu thịt ôi, lấm tấm những gân đỏ. Đó cũng là lý do vì sao nó hay mặc áo dài tay, và cứ mỗi lần xúc động nó đều chạy biến khỏi đám đông, nấp vào một góc chờ đến khi bình tĩnh lại.
Nalia có thói quen đi dạo quanh hồ mỗi khi tan lớp, và chậm bước hết sức có thể qua hàng liễu rủ phía cửa Tây. Nó chẳng hiểu sao lại thế, chỉ là, cứ mỗi lần bước dưới bóng hàng liễu ấy, nó đều cảm thấy kỳ lạ.
Bởi vì khung cảnh ấy, nếu tóm bắt từ phía bên kia bờ hồ, như cái tách khẽ của chiếc máy ảnh ngay vào lúc Nalia qua cây liễu thứ ba, quá rõ ràng để trở nên kỳ lạ.
Không gian lúc ấy nhuộm một màu tím. Màu của hòai niệm. Màu hồng nhạt của hòang hôn, bằng cách nào đó, pha lẫn với sắc xanh nhè nhẹ của bầu trời, trở thành màu u uẩn tím. Tím tràn giữa những khỏang mây. Tím ánh lên từ mặt hồ loang lóang nước. Tím chụp bóng trên cánh chim khắc khỏai nặng nề. Tím đánh một lớp sơn mỏng tang lên những chiếc lá liễu bé xíu, nằm rủ…
Đằng sau sắc tím ấy, sau hàng liễu oằn người, sau dãy tường thấp nứt lỗ chỗ của cửa Tây, là một dãy nhà dân cũ kỹ, đứng san sát lặng lẽ, như giấu mình trong hòang hôn, giấu mình khỏi ống kính của người chụp ảnh.
Những tấm ảnh ấy, nếu chiều nào cũng chụp vào thời điểm đó, rửa ra sẽ hòan tòan giống nhau.
Bóng nhỏ xíu của con bé mười bốn tuổi lơ thơ đi dưới hàng cánh tay tha thướt tím.
2.
Noha ngồi đếm những sợi thừng treo cao thấp, méo mó trên tường. Nó biết thừa con số tổng cộng sẽ là bốn mươi tám sợi, bởi vì nó vừa tìm ra hai sợi bị tuột giấu mình dưới gậm giường.. Tòan màu đỏ.
Thế nhưng nó vẫn ngồi đếm tới đếm lui.
Số thừng mảnh tết từ những búi chỉ ấy, nó đã sưu tập từ cách đây hai năm. Mỗi lần treo thêm một đọan thừng lên, nó lại lẩm bẩm…
“Này là ưu phiền của tớ…”
“Này là nỗi đau của tớ…”
“Này là sự cắn răng của tớ…”
Vân vân và vân vân…
Nó ngắm bức tường đầy mông lung, và đang không biết nên miêu tả cảm giác hiện tại là gì.
Sợ hãi.
Hỏang lọan.
Hay run rẩy.
Hôm nay là ngày thứ năm nó đến ở nhà mới, nhưng hòan tòan trái ngược hẳn với những gì đã mong đợi. Nó hầu như sẵn sàng cho một cuộc sống tươi đẹp hơn, một cuộc mới đầy hương hoa đủ át những bất hạnh lẫn đớn đau mà nó đã trải qua những năm trước, là những ngày tháng câm nín mà nó không bao giờ thổ lộ cho bất cứ một ai. Còn cha mẹ nó, hòan tòan không có khả năng lắng nghe và hiểu nó, giống như có một bức tường đầy sương phủ chung quanh hai con người ấy, mà cho dù lớn đến bao nhiêu đi nữa, nó vẫn phải mải ngước lên nhìn như thuở ấu thơ, bất lực.
Hy vọng là vậy, thế mà, chỉ trong bốn ngày đầu tiên, nó đã treo lên tường bốn sợi thừng đỏ.
Có một nỗi sợ mơ hồ nhưng rất lớn xâm chiếm tâm trí nó, bao bọc chung quanh thân thể yếu ớt của nó. Lần đầu tiên nó bị như thế.
Nó đang không biết có nên treo thêm sợi thứ năm lên tường không, vì vừa nãy, khi nhìn khoảng trời trong veo qua khuôn cửa sổ, nó chợt thấy lạnh sống lưng, chìm ngập trong nỗi sợ mơ hồ…
Cảm giác thường trực của Noha là sự mệt mỏi. Nó luôn cảm thấy mệt mỏi.
Cái chính là nó chẳng hiểu sao nó cứ mãi cảm thấy như thế…
Nếu là nỗi buồn, cơn đau lồng ngực, nỗi sợ, cái rùng mình, hay buồn tủi, thì nó còn có thể hiểu được… Còn sự mệt mỏi, nó ăn dần từ bên trong. Loài ấy rất biết chọn thứ để ăn, nó gặm nhấm tâm hồn cho đến khi cặp mắt thất thần, tay chân bải hoải, nước mắt trơ cạn, làn da tái xanh, và miệng nở nụ cười miễn cưỡng…
Noha nghĩ mãi mà không hiểu được tại sao loài ấy lại chọn ăn nó.
Và vì không hiểu được nên nó không thể thoát ra.
Cho nên thứ duy nhất nó làm được là tết thừng.
Tết rất nhiều thừng.
Lần đầu tiên, nó cầm một búi chỉ đỏ nhặt đâu đó trong nhà, bằng hai bàn tay xước bê bết. Nó cứ ngồi lặng như thế, lòng đau đớn, trí nhớ lan man, trong vô thức nó chia số chỉ ấy thành nhiều đoạn. Chẳng hiểu sao, khi tết chỉ thành những bím thừng nhỏ, những ngón tay làm theo một điệu lập đi lập lại, khiến những đoạn chỉ bện vào nhau một cách có chủ đích, khiến nó bình tâm lại.
Bện vào. Bện vào. Bện vào nhau.
Mua chỉ và tết. Mua chỉ và tết.
Số thừng nó tết dư giấu trong tủ áo, đủ đựng trong một chiếc xô lớn. Thừng đã tết vùi thành một búi rối nùi…
Rối như sự lạc lối trong chính tâm hồn nó.
Nhưng điều đó không ngăn cản Noha càng ngày càng trở nên xinh đẹp. Càng đến gần tuổi dậy thì nước da nó càng trắng ra, mịn như làn da của một đứa con gái. Mái tóc quăn tự nhiên mềm như chảy được qua khe ngón tay, màu xám tro hơi rủ xuống mắt. Giấu mình một chút qua chỗ tóc ấy là cặp mắt với hai đồng tử xanh biếc, trong ngần như nước vùng biển hoang. Thứ tinh hoa phát tiết từ người nó mang một màu sắc hồn nhiên và đượm chút vụng về, khiến người khác cảm thấy muốn thân thiện và chở che; bất kì người nào, cả con gái lẫn con trai, đều không thể đi ngang mà không liếc mắt nhìn nó.
Thế mà thứ sắc đẹp ấy chỉ như một cái rổ hứng những tị nạnh ganh ghét lẫn tai họa. Đám con trai ưa bắt nạt nó. Đám con gái nhìn ra vẻ đẹp ở một cậu bé mà chúng không có. Người lớn thì dụ dỗ nó.
Chuyện ấy đã xảy ra với nó ba lần. Lần đầu thì rõ là bị dụ dỗ, các lần sau là do không thể chống cự lại. Có điều, Noha không hiểu được cái cốt lõi đó, do sắc đẹp có phải là thứ có thể chọn lựa được đâu, từ lúc sinh ra nó đã xinh xắn thế…
Mà càng đau khổ thì nó càng đẹp.
Vẻ đẹp đầy đau đớn ấy cứ như đang dùng hết sức tàn và thủ đọan để bám miết nó như thứ bùn đặc có rẩy thế nào cũng chẳng ra..
Năm nay Noha mới mười hai tuổi.
3.
Hai đứa trẻ quen nhau thật tự nhiên.
Một sáng trời trong như cốc pha lê, Noha đang ngồi trước hiên nhà ngắm mông lung chợt cảm thấy có người đứng ngay phía sau. Nó quay lại.
Và thấy một đôi mắt sáng nhìn nó đầy vẻ tinh nghịch pha lẫn tò mò…
Trông Nalia rất phần khích, nó đã quyết định sẽ làm quen với cậu bé xinh xắn sau bốn hôm, quả là một khỏang thời gian dài quan sát.
“Xin chào. Tên tớ là Nalia. Tớ ở nhà cạnh bên…”
“A, chào cậu. Mình là Noha…” Noha lúng túng, vẫn chưa hiểu bằng cách nào Nalia xuất hiện được trong cái vườn nhỏ nhà nó, một cách hết sức bất ngờ.
“Làm quen nhé..?” Nalia cười tít mắt, khiến Noha thấy ngay sự thân thiện và dạn dĩ từ cô bạn mới quen, một cảm giác dễ chịu khiến nó mỉm cười.
Rồi chúng nó ngồi tán dóc đằng hiên, trước mặt là khỏanh sân đầy nắng, điểm bởi sắc tươi tắn của lòai hoa tím phớt không tên..
Hôm đó Noha không treo sợi thừng đỏ nào cả..
4.
“Này, bà có biết gì không..? Nhà mới dọn đến có một đứa bé..”
“À, cái nhà mới dọn đến gần góc ngã tư đấy đúng không? Nhưng đứa bé đó thì sao chứ..?”
“Ủa, bà không biết gì ư? Không biết khu đó như thế nào, mà nhà nào có trẻ con dọn đến đều phải dọn đi sau một thời gian.. Những đứa trẻ ấy, lúc dọn đi đều trông ngơ ngẩn kì lạ như thế nào ấy.. hình như chúng bị bệnh, cùng một lọai bệnh…”
“Gớm thế! Quỷ ám à…?”
“Tôi không rõ, cũng chẳng có cơ hội hỏi cho ra nhẽ… Khiếp thật nhỉ…”
Hai người nội trợ chia tay nhau ở góc phố, chẳng biết sau cột điện có một đứa bé với mái tóc xám tro, hoang mang.
5.
Noha chia sẻ điều ấy với người bạn mới quen, Nalia chỉ mỉm cười nhún vai, và nhẹ nhàng trấn an. Với Nalia, Noha có một cảm giác rất thân thiết, hơn cả một người bạn thân, hơn cả anh em ruột thịt. Một cái gì đấy đã đến rất tự nhiên, khiến nó có thể cởi lòng và tâm sự tất cả những gì nó nghĩ, Nalia mạnh mẽ và đáng yêu quá, cứ như một vầng dương sáng đẩy lùi những tà ma vẫn đeo bám nó. Nó ngắm rất kĩ cô bạn mình, cái cách con bé cười, cách với tay trên chùm lá lòa xòa, cách vừa tung tẩy đi vừa xoay người lại và nói chuyện với nó và cười khanh khách, cả cái cách cúi thật thấp và nhìn ngước lên nhìn khuôn mặt nó đang cúi gằm..
Ở tuổi mười hai, Noha biết yêu.
Trong vô thức, nó đã coi Nalia như cứu cánh của đời mình.
6.
Chúng nó đã quen nhau hơn ba tháng..
Cứ mỗi một ngày không được nhìn thấy Noha là Nalia không chịu được. Nó đã thực sự rất bất ngờ khi nghe những chuyện bạn mình kể cho, ban đầu có cảm thấy có phần thương hại, rồi đến căm tức những kẻ đã làm hại đời Noha, rồi đến yêu thương, rồi không thể thiếu nhau được nữa.
Nó biết mình phải làm gì. Đó là ở bên Noha và mỉm cười.
Vào một ngày trời mờ giông, chúng ngồi với nhau trước bậc tam cấp của một ngôi chùa nhỏ bỏ hoang, ngắm nhìn những hạt mưa đầu tiên tí tách xuống khóm hoa dại. Gió thổi cuốn xác lá khô quắt lẫn bụi vào mặt. Chúng nhắm tịt mắt.
Và Nalia lần nắm lấy bàn tay nhỏ nhắn của cậu bé mái tóc xám tro.
Noha để nguyên như thế một lúc lâu. Rồi nó nói, rất đơn giản, rằng Nalia, cậu đừng rời bỏ tớ nhé.
Sau câu nói đó, ngây thơ đã rời bỏ chúng mà đi.
7.
Hòang hôn tím.
Noha ngồi trong phòng nó. Chiếc cặp đi học lẫn tập vở quăng bừa bãi trên giường. Nó ngồi lặng thinh, và xoa xoa vết bầm trên cánh tay. Nó uất đến mức nghẹn cả thở. Một lũ con trai lớp trên vừa bắt nạt nó, chẳng để làm gì, chỉ là chúng thấy ngứa mắt cái dáng lầm lũi của nó lúc đi về, và rằng nó đã không đáp trả tiếng gọi đầy sỗ sàng của chúng. Nó còn nhớ như in lũ chúng nó đã bảo nó trông chẳng khác gì một đứa con gái yếu đuối. Tai nó còn vang tiếng cười gằn đầy chế giễu.
Rồi nó nghĩ đến Nalia, đến cái dáng mạnh mẽ của Nalia. Đột nhiên nó hết sức muốn cùng học chung với Nalia. Có lẽ nó sẽ xin chuyển trường chỉ để sớm tối được ngắm nhìn Nalia.
Vừa lúc nó định ngồi dậy và đi kiếm Nalia thì nghe thấy tiếng gọi.
Noha mở cửa sổ trông xuống vườn. Nó trông thấy cô bạn thân đang đứng trứơc hiên vẫy. Như mọi khi, Noha chẳng thể nào hiểu được vì sao con bé vào được vườn nhà nó, nhưng nó vẫn lật đật chạy xuống, dáng mừng rỡ.
Đến hiên, Noha nhìn quanh, Nalia đã biến mất.
Nó chạy ra đường, đằng xa cuối con đường nhỏ là dáng Nalia, quay lưng và bước đi trong ánh tà dương, dáng nhảy nhót. Chắc cậu ấy muốn trêu mình đây.. Nó nghĩ và vội vã đuổi theo, nhưng Nalia đi rất nhanh, chỉ còn tiếng cười khúc khích của con bé vẳng lại lôi kéo nó.
Thở hổn hển, Noha gập người và chống tay vào một cậy cổ thụ lớn bên cạnh hồ, người run rẩy. Một giọt mồ hôi rỏ vào mắt cay xè khiến nó dụi mắt thật lực. Lúc ngước lên, nó trông thấy Nalia đứng ngay cạnh Hồ Liễu, nhìn về phía nó. Khá xa, nhưng nó vẫn trông thấy Nalia đang mỉm cười. Chẳng hiểu sao, hòang hôn như nhuộm làn da Nalia thành màu tím.
Con đường chiều vắng tanh, không lũ trẻ, không người hàng rong, không bà nội trợ, không viên chức đi làm về, không bóng người đằng sau những khuôn cửa sổ nơi bức tường phía Tây loang lổ.
Thế giới thu gọn lại trong thời khắc của hòang hôn, tím thẫm.
Chỉ có nó, và Nalia đứng vẫy nơi cây liễu thứ ba.
Nó bước đến gần Nalia. Nụ cười của Nalia đẹp như thiên nữ.
Chúng nó đối mặt nhau. Và Nalia ôm lấy nó, khiến nó run rẩy như một con chim nhỏ. Hơi ấm của Nalia quyện vào nó. Mùi hương nhẹ nhàng của con bé thấm trong nó.
Nó cảm thấy Nalia rất lạ, hình như con bé lại cười khúc khích. Nhưng cái ôm chặt ấy như đóng hết mọi nẻo trong não bộ, nó vòng tay và ôm lấy Nalia. Con bé ghì nó mạnh đến mức hai chân yếu ớt của nó trụ không vững, chúng té xuống mặt đường.
Mặt đường trải nhựa, nóng rẫy, như muốn đốt cháy lưng nó, đến mức Noha trong vòng ôm kín mít cũng thấy ngạc nhiên, nó nhớ ra giờ đã là chiều muộn.
Nó định vùng dậy, nhưng Nalia đã thả nó ra trước, con bé đang đè trên người nó, nhìn thẳng vào mắt nó, cặp mắt trong suốt và gần đến mức thấy rõ đôi đồng tử, khiến má nó đột nhiên nóng bừng. Nó vẫn chưa kịp hiểu mọi chuyện đã xảy ra theo cách nào.
Rồi Nalia hôn môi nó. Ngay trên mặt đường nhựa của hòang hôn. Lưỡi và vòm miệng con bé nóng rẫy như mặt đường dưới lưng nó. Con bé liếm nhẹ lên vết bầm trên mắt nó. Nó nhắm tịt mắt và cảm thấy có cái gì đó cuộn xóay trong nó. Cái gì đó cợn lên, cảnh báo, không phải là cảm giác an ủi nhẹ nhàng, không phải là cái ấm áp của nụ cười tươi sáng trong vắt như sương sớm.
Không có ai.
Nalia hôn lên má, lên cổ nó, cái hôn mạnh mẽ đầy chiếm hữu. Bàn tay con bé lần xuống vạt áo nó, tay còn lại cởi tung các nút, vội vã, ngốn ngấu. Hình như nó đang bắt đầu chấp nhận những gì đang diễn ra mà không thắc mắc nữa, có thứ gì đó chèn nó nặng như đá, khiến nó không thể nhúc nhích nổi dù là một ngón tay. Rồi nó mở mắt ra, từ tốn, và nhìn thấy một hàng cánh tay đang rủ xuống nơi đầu mỗi cây liễu, đưa đẩy.
Nó nhắm mắt lại.
Nghe tiếng thì thầm của Nalia văng vẳng như vọng đến từ một cõi xa xăm.
“Noha… tớ đã hấp thụ những đau đớn của cậu. Bây giờ để tớ làm tròn cái việc tớ muốn làm, nhé…”
Nalia cùng nó trần truồng trên mặt đường nhựa, cạnh hồ nước, dưới hàng cánh tay ma quái đang rủ, rủ vào trong góc tối của nó, vào những dự cảm đau khổ mà đến giờ nó mới hiểu ra.
Thừng đỏ treo trên tường.
Chúng nó đi vào trong nhau. Giữa cái đau đớn ấy, Noha nhận ra sự đủ đầy trong cuộc đời ngắn ngủi của nó. Nó hiểu ra mọi chuyện. Nước mắt nó không chảy. Tất cả những gì nó tập trung lúc này, chỉ là dáng dấp cử động đẫm mồ hôi của Nalia.
Nó chứng kiến, Nalia xé tọac nó ra, từ cổ trở xuống, và ăn sạch những gì nó có.
Bóng tối phủ xuống đen kịt.
8.
“Này, bà có biết tin gì chưa? Nhà vừa dọn đến cách đây mấy tháng lại dọn đi nữa đấy!!”
“Sao?! Lại nữa à… Lần này là chuyện gì..?”
“Không rõ nữa. Nghe họ bảo họ chuyển công tác hay sao ấy… Nhưng mà đứa trẻ…”
“Đứa trẻ sao…??”
“Nhìn nó kìa.”
Nalia vươn vai dậy. Cảm thấy sảng khóai và ngước nhìn nắng sớm. Chợt nó nghe tiếng ồn ào ngòai sân, nó ngó ra.
“Ơ, nhà bên cạnh lại chuyển đi nữa à..” Nó lẩm bẩm.
Rửa mặt thay đồ xong, nó vọt ra trước cửa, nấp sau cây điệp vàng tò mò trông ra…
… thấy những kiện đồ đạc cuối cùng được chất lên ba xe tải lớn, và người nhà lục tục kéo lên. Trong số đó có một đứa trẻ với mái tóc mềm màu xám tro, khuôn mặt vô hồn, hai mắt lờ đờ bọng nước, trông yếu đến mức chỉ một cơn gió thổi qua cũng đủ cuốn nó lên trời.
Xe tung bụi đi xa.
Nalia quay trở vào, chép miệng.
Ngòai cửa, hai bà nội trợ vẫn còn kháo nhau..
”Này bà, tay lái xe tải lúc quay ra, đã bảo trong một căn phòng, trên tường có treo một cuộn thừng đỏ rối nùi, trông như một vòng lửa…”
The End
17/07/08
B4 – Đơn côi.
4.
Giữa tháng chín, tôi đến bưu cục trung tâm Tân Hà đăng ký sử dụng điện thoại. Đang có chương trình khuyến mãi miễn phí trăm phần trăm mọi cước phí hòa mạng, lắp đặt, thiết bị đầu cuối. Khuyến mãi chỉ kéo dài trong vòng ba mươi ngày ngắn ngủi. Vì thế phải nhanh chân lên.
Buổi sáng thứ bảy, tôi thức dậy lúc 5h, uống một cốc cà phê Hương Chồn thật lớn, thật nóng. Xong rồi, đi đánh răng. Kem đánh răng có mùi thơm bạc hà và vị the mát rất đặc biệt. Tôi nhịn được việc hút thuốc. Tôi không muốn chút nữa người nhân viên ở quầy giao dịch của bưu cục sẽ nhíu mày khó chịu nhìn tôi. Khuyến mãi trăm phần trăm đã khiến họ khó chịu nhiều rồi. Tôi muốn tỏ ra cảm thông với họ bằng bộ dạng nhã nhặn bên ngoài của mình.
Sau đó tôi bắt đầu chọn áo. Màu trắng có vẻ rất thanh tao, sẽ gây được cảm tình cho người đối diện. Còn muốn tôn lên vẻ nữ tính của một cô gái, hãy mặc nó cùng với váy màu kem thật nhạt, sau đó trang điểm nhẹ nhàng với màu mắt hồng dịu và điểm chút son bóng nơi môi. Đó là những gì các chương trình làm đẹp hay tư vấn cho khán giả gửi thư về thắc mắc. Tôi nghĩ đã đến lúc mang lời khuyên của những chương trình ấy ra sử dụng. Vì thế, chọn mặc một áo sơ mi trắng có dây rút nơi thắt lưng và một váy hoa in chìm. Tô một chút son lên môi, đánh phấn hồng thật nhẹ nơi gò má, quét từ mặt xuống cổ một lớp phấn màu da vừa mềm vừa thơm. Xong việc, tôi ra đứng ngắm mình trước gương, bắt đầu chải tóc.
Lâu nay tôi vẫn trung thành với một kiểu tóc quen thuộc. Dài ngang vai, hoặc để xõa, hoặc cột cao. Dù là kiểu tóc nào tôi cũng thấy mình không đẹp. Còn có vẻ gì đó rất buồn. Nhìn vào gương, thấy cô gái trong ấy cứ như sắp khóc. Hoặc vừa mới tự lau khô nước mắt cho mình. Cả hai hình ảnh ấy đều có ý nghĩa tương tự nhau. Từ khi nhận ra điều đó, tôi luôn muốn có một kiểu tóc khác. Buổi sáng này đây, ý muốn ấy càng trở nên mạnh mẽ hơn bao giờ hết.
Bây giờ chỉ mới 5 giờ và hai mươi phút sáng. Đường phố Tân Hà vẫn còn đang say ngủ. Những tàng cây vẫn ngủ, cả giọt sương bé nhất cũng chưa chịu thức dậy và rời khỏi phiến lá thẫm xanh. Tìm ở đâu ra một cửa hiệu cắt tóc sẵn lòng phục vụ thượng đế của họ trong buổi ban mai này?
Tôi nhớ ra rằng mình có một chiếc kéo nhỏ. Lọai kéo bọn học sinh tiểu học hay thủ sẵn trong ngăn ngoài của cặp sách. Dùng để cắt dán những thứ linh tinh trong giờ bài tập thủ công. Nhưng đám con trai lại xem nó như một vũ khí lợi hại. Chúng thường dọa sẽ cắt phăng đi mớ tóc dài của đứa bạn gái ngồi trên, đem về cho em gái chơi búp bê hoặc bán đồ hàng. Thế là từ đó, con trai con gái xem nhau như kẻ thù. Chiếc kéo ở giữa, vạch ra đường chia cách hai chiến tuyến.
Tôi mở ngăn tủ, lấy ra chiếc kéo thuở niên thiếu của mình. Lưỡi của nó đã bị rỉ sét hết cả. Tay cầm cũng không còn màu nâu bóng đẹp như lúc cha mua cho tôi. Nhưng công năng của nó thì vẫn như xưa.
Tôi bắt đầu tự cắt tóc cho mình. Chắc chắn sẽ không đẹp vì tôi vốn là một đứa vụng về có hạng. Nhưng tôi không cần một mái tóc đẹp, tôi chỉ muốn một mái đầu nhẹ nhàng, có thế, những bước chân của tôi mới có thể nhẹ nhàng theo.
Trước khi cắt, tôi tìm một tấm vải sạch, trải ở sau lưng, sao cho những sợi tóc khi rơi xuống sẽ nằm ngay vào tấm vải ấy. Tôi nhớ những người thợ ở cửa hiệu không có thói quen này. Trên nền đất của họ luôn lẫn lộn đủ loại tóc khác nhau. Tóc của cô gái trẻ, tóc của người đàn bà bán sạp hàng trái cây, tóc của người trung niên chở thuê hàng hóa, tóc của lão hành khất có đôi mắt mù lòa, tất cả đều trộn lẫn vào nhau. Rồi sau đó cùng trôi theo đường ống nước đến những nơi tối tăm và đầy mùi nhơ bẩn. Nhưng tôi thì khác, tôi yêu quý mái tóc của mình. Cắt nó đi đã là một quyết định khó khăn. Vứt bỏ nó như một món đồ phế phẩm càng là điều tôi không làm được.
Tôi gói mảnh vải ấy lại ngay ngắn, cất vào trong góc tủ. Nhìn lại vào gương, phát hiện có một cô gái đang dõi theo việc tôi làm với vẻ rất thích thú. Tôi mỉm cười nhìn cô ấy. Tâm trạng đột nhiên như mặt hồ phẳng lặng. Lẽ thường là thế, không ai thấy lo sợ khi đối mặt với chính mình.
Cô gái ấy sẽ là người thay tôi ghi nhớ giây phút này.
Ngày hôm nay, tôi mặc áo trắng, váy ca rô in chìm những hoa văn sáng màu, tóc cắt ngắn không vướng bận điều gì, trang điểm nhẹ nhàng như một người con gái nhã nhặn. Như thế, tôi thấy mình rất đẹp.
Cô gái trong gương cũng bảo, cười lên đi, bạn rất đẹp.
/…/
Bưu cục thành phố nằm ở một nơi tĩnh lặng, trong dáng vẻ một ngôi nhà cổ xưa. Tôi từ phố Ngọc Hồi đi ra, đến quảng trường trung tâm rồi qua hai lần rẽ phải, chờ ba mươi giây đèn đỏ ở hai ngã tư thì đến nơi. Xe buýt không được phép vào khu sân chính của bưu cục. Hai người bảo vệ trong đồng phục xanh hải quân, cầu vai đeo hai dải lụa vàng óng nói với chúng tôi như thế. Lái xe đành phải chạy đến khoảng đất trống gần đó, quay đầu xe và thả xuống một số khách có ý định viếng thăm bưu cục như tôi.
Tôi xuống xe, nhận ra nơi đây có rất nhiều gió. Trảng cỏ xanh phía trước bưu cục rập rờn lay động trong nắng sớm. Một cây cổ thụ to vươn lên cao từ giữa, trông như một chiếc nấm khổng lồ ngang nhiên đâm tọt vào trời xanh. Vài con diều giấy sặc sỡ của đám trẻ mắc kẹt trong các cành lá. Chúng phất phơ qua lại trong gió như những dải mây đủ màu. Tôi đến gần những hàng quán quanh gốc cổ thụ. Trà xanh, nước ngọt, cam vắt, sữa đậu nành, thậm chí là có cả hàng kem lưu động với tên gọi nghe rất kiêu hãnh: Tăng Tiến. Có những tiếng rao phát ra từ chiếc loa nhỏ gắn tản mác trên các cành thấp. Bàn ghế bày bừa khắp nơi như một buổi tiệc không thể ước lượng trước số khách tham dự, vì thế cứ mang tất cả bàn ghế mình có bày ra. Để ngay cả người khách qua đường xa lạ nhất cũng có thể có một chỗ ngồi ở nơi đây.
Tôi mua một que kem đậu xanh từ người đàn ông trung niên gần đấy. Rồi ngồi xuống một chiếc ghế nhựa thấp, dưới bóng mát cổ thụ, lặng lẽ ăn que kem của mình.
Bên kia trảng cỏ, mặt trời mạ ánh vàng rực rỡ lên đỉnh tháp chuông đồng hồ của bưu điện. Hôm nay là một ngày thứ bảy, tôi mặc áo trắng váy hoa đi xe buýt đến nơi đây. Trong người chỉ có đồng hồ đeo tay, khăn tay trắng, ba trăm ngàn, thẻ chứng minh nhân dân làm năm mười bảy tuổi. Và mái tóc vừa mới cắt lúc 5 giờ 30 phút sáng nay. Tôi đến đây để làm gì?
Tôi thấy nhớ Đơn Dương. Người bạn chỉ vừa quen biết trong nửa ngày đã vội vàng bỏ tôi ra đi. Tàu đưa anh xuôi về phương Nam. Đêm xuống, những người xung quanh ngon giấc, anh ngồi một mình viết thư cho tôi. Anh cũng là một người rất tử tế. Cẩn thận để lại cho tôi số điện thoại “cầu cứu” ở bên ngoài lá thư. Tôi đọc thư anh, tôi ghi nhớ dãy số ấy. Cẩn thận hơn, tôi chép chúng vào một cuốn sổ nhỏ, luôn mang theo bên mình, để lúc nào đi đường gặp buồng điện thoại công cộng và trong túi có tiền xu, là có thể nghe thấy anh ngay.
Nhưng đó chỉ là cách ứng phó tạm thời. Buồng điện thoại công cộng cũng chỉ là cách tìm thấy Đơn Dương tạm thời. Tôi muốn nói chuyện với anh ở một nơi khác. Nơi cho tôi cảm giác an toàn nhất, rằng chẳng có ai đang nhìn ngó hay nghe trộm câu chuyện của mình. Tôi đi tìm mãi, cuối cùng nhận ra nơi đó không đâu khác chính là nhà mình. À không, ở Tân Hà tôi không có nhà, tôi chỉ có phòng trọ, chỉ có một không gian riêng. Vừa hay, bưu cục thành phố thông báo chương trình khuyến mãi trăm phần trăm hòa mạng đường thoại dài trong nước. Tôi chẳng biết Đơn Dương đang ở nơi đâu. Nhưng với đường thoại dài, tôi cho rằng sẽ tìm ra anh rất nhanh chóng. Rồi chúng tôi sẽ lại nói chuyện với nhau như hôm anh đến phố Ngọc Hồi thăm tôi. Phải, anh trên tàu hỏa hoặc một trang trại vùng biên giới, còn tôi thì ở tại phòng trọ ba mươi mét vuông của mình. Hai chúng tôi sẽ lại nói chuyện cùng nhau.
Thứ bảy. Tôi đang ăn một que kem đậu xanh. Que kem màu xanh lá mạ, toàn thân tỏa ra làn khói mỏng lạnh băng. Que gỗ màu trắng, vót nhọn ở đầu và vo tròn ở cuối thân tre. Một ngàn năm trăm đồng cho một que kem như thế. Người đàn ông bán kem cho tôi có nụ cười lấp lóa ánh Mặt trời. Ông ngồi trong bóng râm cây cổ thụ, tay phải lắc chiếc chuông nhỏ ở cổ xe, tay trái phe phẩy chiếc nón bạc màu làm quạt mát. Tôi nhìn thấy rất rõ những ngón tay của ông. Chúng đen đủi, thô ráp và đầy vết trầy xước. Trên ngón vô danh lấp lánh một chiếc nhẫn bạc. Đây là người đàn ông đã có một mái ấm để sớm chiều đi về.
Ông cũng là người tốt bụng. Vì cứ nhìn tôi suốt từ lúc tôi đến gần mua kem và ngồi ăn trên ghế nhựa chân thấp. Vừa nhìn vừa cười. Vừa cười vừa quay sang nói gì đấy với cô bán bong bóng bay bên cạnh. Trong lúc vừa nói vừa cười như thế, vẫn không quên nhiệm vụ lắc chiếc chuông nhỏ của mình. Tôi thích âm thanh của nó. Tôi thích kem đậu xanh của ông. Tôi thích chỗ ngồi nơi bãi cỏ, dưới bóng râm cổ thụ này. Tôi thích cả việc nhớ đến Đơn Dương trong một buổi sáng như thế. Ước gì tôi có thể ngồi cả ngày ở nơi đây, ăn kem, nghe tiếng chuông kêu leng keng, ngắm nhìn người qua lại. Và hình dung ra mình đang chuyện trò với Đơn Dương.
Nhưng tôi sắp phải đi rồi.
Bên kia trảng cỏ, mặt trời dát những ánh vàng rực rỡ lên nóc tòa nhà cao tuổi nhất Tân Hà. Từ bên cạnh, sau một đêm ngon giấc, tháp chuông già cỗi nay đã thức dậy, vừa vươn vai ngáp ngủ vừa thong thả gióng lên bảy tiếng vang vang.
Bảy giờ sáng. Bưu cục mở cửa. Khuyến mãi trăm phần trăm lại tiếp tục bắt đầu.
Tôi đã ăn hết que kem. Tôi phải đi rồi.
/…/
Nhiều năm trước, tôi rất thường xem tiểu thuyết. Gần trường học cấp III của tôi có một điểm cho thuê tiểu thuyết tình cảm rất đắt khách. Tôi còn nhớ rõ nơi đó. Nó không giống bất cứ cửa tiệm thông thường nào. Chỉ là một gian phòng nhỏ, cửa sổ hẹp bị che mất phần nào bởi mớ quần áo bề bộn giăng ngang dọc khắp nơi. Trên tường dán đầy tranh ảnh của người mẫu và các loại lịch cũ nhiều năm về trước. Ánh sáng không có nhiều, lúc nào cũng chỉ là một thứ ánh vàng nhờ nhạt và mờ đục chiếu rọi khắp nơi.
Chủ điểm thuê truyện, một người đàn bà đã hơn bốn mươi tuổi, hay quấn mình trong chiếc áo dạ dài có màu đỏ sậm, tóc uốn xoăn thả xuôi hai bên vai, môi và mắt đều xăm một màu tối thẫm và đậm nét, thường ngồi trong một chiếc ghế bố sau chiếc bàn con ở cửa phòng, hút thuốc lá, ghi chép liên tục trong một quyển sổ lớn bìa trắng sọc xanh. Xung quanh bà ta là hàng hàng những chồng tiểu thuyết cao nghất. Chúng được xếp ngay ngắn trên kệ gỗ, nhét bừa vào những thùng các tông cao đến nửa thân người và chất đầy trên mặt bàn con. Một số quyển bám bụi vì lâu ngày không có tay người chạm đến. Một số được bao bọc cẩn thận bằng giấy kiếng vừa dày vừa trong. Nhờ thế trông vẫn còn mới và đẹp như lúc vừa mua về. Nhận được sự ưu ái đó là vì chúng là những quyển đắt khách nhất ở cửa tiệm.
Hàng ngày có rất nhiều người ra vào căn buồng đó. Trả sách, hỏi thuê sách mới, thanh toán tiền thuê cũ, hoặc đơn giản hơn, đặt bà ta đem về một số sách thuộc thể loại mình yêu thích. Quy tắc đặt ra trong việc thuê sách là bất di bất dịch, giá thuê ba ngàn đồng trọn bộ hai tập, thế chân ba mươi ngàn, thời hạn giữ sách tối đa là hai ngày. Qua 48 tiếng đồng hồ đó, cho dù bạn có đem trả sách, tiền thế chân vẫn nghiễm nhiên thuộc về bà ta. Quy định ấy khiến tôi đôi lúc cuống quyt đến tội. Phải Vội vội vàng vàng lật nhanh những trang ở giữa để mau chóng biết được kết thúc của câu chuyện trước thời gian hạn định. Tôi xem rất mê say. Hầu như ngày nào cũng cố xem xong hai tập của một tựa truyện nào đấy. Ở trường tôi thường lén xem trong những giờ học nhàm chán bằng cách giấu chúng sau những quyển sách giáo khoa to bản. Lúc về nhà thì vội vàng leo ngay lên căn gác nhỏ, tự do đắm mình theo thế giới của những nhân vật trong sách. Có hôm chong đèn thức đến khuya lơ khuya lắc, chỉ để biết cho bằng được đoạn kết của một chuyện tình trắc trở nào đấy.
Hầu hết sách trong cửa tiệm bà ta đều là loại tiểu thuyết diễm tình chỉ đáng giá ba xu trong con mắt những người có nền văn hóa đương đại. Nhưng đôi khi cũng tìm được những quyển rất hay. Tôi không nhớ được tên tác giả của những quyển rất hay đó. Thường không hiểu vì sao, trang bìa của chúng bị mất hoặc mực in tệ đến mức chẳng nhìn ra được điều gì. Dần dần, tôi quen gọi họ là Khuyết Danh. Những người viết giấu kín khuôn mặt và cả tên tuổi của mình. Nhưng tôi có thể hình dung về họ rất dễ dàng. Có thể là một cô gái trẻ, một người phụ nữ trung niên hoặc một ông bác đã đến tuổi về hưu, ngày ngày hay ngồi trầm mặc trước hàng hiên của mình. Họ, cũng ngày ngày làm một công việc ổn định nào đó. Nhưng khi chiều về, hoặc vì quá rảnh rỗi, hoặc vì muốn kiếm thêm thu nhập, đã chịu khó nghĩ ra vài số phận éo le, gắn vào đó tên tuổi những con người mình từng quen biết. Rồi cho họ quen nhau, yêu nhau, làm nhau khổ sở, đày đọa nhau. Cuối cùng hoặc ở bên nhau hoặc đường ai nấy đi. Người đọc sau khoảng thời gian nín thở theo dõi số phận và chuyện tình trắc trở của các nhân vật thì thở phào nhẹ nhõm vì cuối cùng cũng đã đọc xong, kịp trả sách trước thời hạn 48 tiếng đồng hồ. Như vậy, cả hai bên đều được thỏa mãn.
Tôi nghĩ, chính vì sự thỏa mãn ấy mà trong lòng tôi, vị trí của những tác giả Khuyết Danh không ai so sánh được. Tôi yêu quý họ và nghĩ về họ nhiều hơn hết thảy những người viết khác. Dù cho truyện của họ thường không được chuyền tay nhiều như tiểu thuyết của Quỳnh Dao.
Ở cửa tiệm 48 tiếng đồng hồ đó, truyện của Quỳnh Dao là được ưa chuộng nhất. Tôi không hiểu vì sao lại thế. Có những quyển tôi đọc thấy nhiều trang lấm lem mực. Hẳn là vì quá cảm động, những người khách trước đã sơ ý làm rơi vài giọt nước mắt trên trang chữ.
Có hai lý do để giải thích trong trường hợp này.
Một là vì Quỳnh Dao viết quá hay, xây dựng cuộc đời nhân vật quá truân chuyên và khổ sở, khiến người xem khó có thể cầm lòng. Lý do này tôi gọi là “thương người”. Hai là đọc truyện mà ngỡ như nhìn lại quãng đời đã qua của mình. Ngỡ như nhân vật nữ ấy chính là mình trong tuổi thanh xuân, người thanh niên ấy có thói quen uống ba cữ cà phê mỗi ngày chẳng khác gì ông xã xấu số của mình. Mà ổng lại vừa mới bỏ mình xuống đất nằm mới hồi tháng trước. Thế là vừa đọc truyện vừa nhớ ông xã, vừa nhớ ông xã vừa khóc. Khóc nhiều đến mức khi quyển truyện đến tay tôi đã lem luốc như một cô gái đến tuổi xuân thì vẫn chưa có thói quen chăm chút cho dáng vẻ bên ngoài. Lý do này tôi tạm gọi là vì “thương thân”.
Thương người như thể thương thân, một câu nói rất thịnh hành trong nhiều tầng lớp công dân của xã hội, rất tình cờ, đã diễn tả một cách rõ ràng nhất và đúng nhất tâm tình của những người đọc dân dã chúng tôi. Hay là vì mọi mối tình cảm trong cuộc sống này cuối cùng cũng sẽ quy về đạo lý đơn giản đó?
Tôi không biết. Tôi thường chẳng quan tâm đến những vấn đề có chiều hướng quá sâu xa và rộng mở, nhất là trong tâm lý con người và đạo sống ở đời. Người khác có thể cho rằng tôi là một đứa con gái hời hợt. Nhưng bản thân tôi tự thấy đó là một trong những điều may mắn hiếm hoi của mình.
May mắn hơn nữa, tôi thường không khóc khi xem tiểu thuyết. Dù đôi lần bị cuộc sống trong những trang sách ấy khiến cho mê say nhưng tôi vẫn chưa lần nào rơi nước mắt vì bất cứ ai. Tôi chỉ hay chú ý đến những mẩu đối thoại giữa các nhân vật trong truyện. Tôi cho rằng cốt lõi của tiểu thuyết chính là ở điểm đó. Trong tiểu thuyết rẻ tiền, thoại chỉ là những dòng chữ nằm chết trên trang giấy, như con cá nhỏ mắc cạn ở bãi cát lúc hoàng hôn, chỉ có thể vùng vẫy trong tuyệt vọng. Phó mặc hoàn toàn vào cách đọc và cảm nhận của người xem.
Nhưng, có một số ít tác giả biết cách làm cho lời thoại của mình có đời sống lâu hơn thường lệ. Họ gắn vào chúng thái độ, vẻ mặt, ngôn ngữ hình thể của nhân vật. Có lúc tôi có cảm tưởng lời thoại ấy ném thẳng vào mặt tôi, hoặc lửng lơ đâu đó trên những đỉnh tóc, khiến cho tôi phải ưu phiền và suốt ngày suy nghĩ về chúng.
Tôi biết, khi đó nỗi lòng của nhân vật đã biến thành nỗi lòng của tôi. Tâm tư của họ gắn liền với tâm tư của tôi. Vì thế, khi họ bối rối, tức giận hay hạnh phúc, những cảm giác ấy cũng lan sang tôi phần nào. Tôi trở nên thích những lời thoại của họ, thích đến mức có lần chăm chăm lật vội một quyển tiểu thuyết chỉ để xem một người con gái sẽ trả lời thế nào với một kẻ đã ba lần từ chối tình yêu của cô.
Lần đầu, rất điềm nhiên, anh ta nói: Tôi không yêu em.
Lần thứ hai, anh ta suy nghĩ lâu hơn một chút, rồi nói: Tôi vẫn chưa yêu em.
Lần thứ ba, anh ta vừa lau nước mắt cho cô gái vừa nhẹ giọng như một kẻ có tội: : Tôi vẫn không yêu em.
Hai lần trước, cô gái đều đáp: Em sẽ chờ anh.
Nhưng lần này, vừa khóc cô vừa nói: Em vẫn không thể không yêu anh.
Chỉ thế thôi. Rồi hai người chia tay nhau ở ngã tư đường. Anh lên xe máy đi về phía Nam thành phố. Cô đi trên vỉa hè trở về ngôi nhà ở hướng Đông. Ánh hoàng hôn rơi rớt sau lưng họ. Khi ấy là một buổi chiều tà. Khi ấy, vẫn là một kẻ “không yêu” và một người “không thể không yêu”.
Tôi rất thích đọan kết của quyển tiểu thuyết đó. Sau này, dù có đọc thêm nhiều quyển khác hay hơn, tôi vẫn cứ nhớ những lời thoại giữa đôi nam nữ đó. Tôi chẳng rõ thành phố họ ở có tên là gì, cô gái tên là gì, chàng trai tên là gì. Tôi chỉ nhớ những lời thoại. Đem chúng ghép vào bất cứ nhân vật nào khác, ngay lập tức, cảnh chia tay năm nào được tái hiện trước mặt tôi. Và tôi mừng rỡ đọc từng chữ, từng chữ một. Tôi đọc một cách rất khẽ khàng và từ tốn như thể đang nâng niu trong tay một quả bóng nước dễ vỡ.
Nhưng khi gấp quyển sách lại, tôi phát hiện ra mình vẫn chẳng nhớ được thêm gì khác trong quyển sách ấy ngoài những lời thoại. Lần nào cũng như thế. Điều đó khiến tôi cảm thấy e ngại với chính con người mình. Nếu sau này có một người đến bên tôi, đối xử tốt với tôi, luôn chăm sóc cho tôi nhưng chẳng bao giờ khiến tôi mảy may xao xuyến vì một lời nói khó hiểu nào đó, thì, sau khi người ấy ra đi, tôi sẽ còn nhớ gì về họ?
Tôi cảm thấy buồn, vì mãi vẫn không trả lời được câu hỏi đó.
Những ngày tháng có thói quen gối đầu giường bằng một thiên tuyểu thuyết nào đó, nỗi buồn đó cứ dai dẳng bám theo tôi. Tôi chẳng biết làm thế nào để chấm dứt nó. Cuối cùng, tôi thôi không đọc tiểu thuyết nữa.
Tôi sợ nỗi buồn từ đó. Và sợ hơn cả vẫn là những nỗi đau được lồng ghép quá khéo léo vào những trang văn mang vẻ đẹp đến bi ai. Không thể không đau khi đọc chúng. Tôi ghét bị đau. Tôi sợ hãi bị đau. Nhưng tôi nhận ra mình lại không thể không đọc chúng. Đó là niềm an ủi duy nhất trong đêm khuya của tôi. Đó là cách duy nhất khiến tôi cảm thấy mình vẫn có cơ may tìm được hạnh phúc.
Tuổi niên thiếu của tôi đã trôi qua như thế. Dằng dai giữa nỗi buồn của bản thân và nỗi đau của những con người giấu mặt sau trang sách ngả màu vàng ố. Đã trôi qua trong cửa tiệm 48 tiếng đồng hồ, nơi căn buồng nhỏ của người đàn bà có đôi lông mày hình dấu ngã, khi tôi đứng chen chúc bên cạnh những người khác, gần đến mức ngửi thấy mùi mồ hôi của họ. Mùi mồ hôi chân thật và đượm vị nhọc nhằn, luôn nhắc tôi nhớ về hình ảnh đó, con bé mười lăm tuổi đứng lẫn trong đám đông, chìm trong ánh sáng nhợt nhạt của gian buồng hẹp, chờ đến lúc được cầm trên tay bộ tiểu thuyết mới nhất của nữ nhà văn Khuyết Danh nó vẫn hằng yêu thích.
/…/
Trên một tờ tạp chí chuyên về điện ảnh tôi hay đọc, thỉnh thoảng người ta lại trưng lên những cuộc thăm dò ý kiến hết sức buồn cười như sau:
1/ Bạn có hay xem phim không?
2/ Thể loại phim bạn yêu thích là gì?
3/ Bạn nghĩ gì về những nhân vật phản diện?
4/ Bạn có nghĩ một ngày đó mình sẽ trở thành một diễn viên tài giỏi?
5/…
Và dù biết là chúng buồn cười, nhưng tôi vẫn có thói quen trả lời những câu hỏi đó. Trả lời tất cả những câu mà tôi trông thấy.
Tôi xem phim không thường xuyên. Tôi cũng không phải một người có tính đòi hỏi, có phim gì thì tôi xem phim nấy. Và tôi đã từng rất thích một cảnh trong bộ phim “Phượng hoàng lửa”. Nhân vật chính trong cảnh ấy là một cô gái trẻ. Cô ta theo ý đồ của đạo diễn, là một nhân vật phản diện xấu xa, trong lòng chất chứa nhiều ác ý và căm ghét.
Về câu hỏi thứ tư, thú thật là tôi thấy bạn (tức người biên sọan mớ câu hỏi ở trên) rất có óc khôi hài. Tôi tin rằng bạn sớm muộn gì cũng thành danh trong một vai hài hước nào đấy. Phần mình, tôi không thích xem chú hề, tôi cũng chẳng thích Chaplin hay Saclo. Tôi không thích tất cả những gì liên quan đến cười cợt. Vì tôi sợ một ngày thức dậy, bước xuống đường, người người xung quanh cũng sẽ nhìn tôi và cười cợt như thế. Bạn đừng nhăn mặt, tôi biết câu này mình đã trả lời quá tệ. Cho nên xin được phép thay vào đó bằng một lời đáp cho một câu hỏi ngoài lề khác.
Kể lại cảnh phim khiến một đứa con gái mười bảy tuổi đầu luôn luôn nhớ mãi.
Như thế này, chúng ta có một cô gái trẻ. Không, phải nói là người vợ trẻ thì đúng hơn. Một người vợ trẻ đã mang sự thương tật vĩnh viễn của đôi chân mình làm nguyên cớ níu kéo người đàn ông cô yêu. Anh ta là người đã có một đời vợ, thành đạt, lịch lãm nhưng xa cách. Cô chưa bao giờ có cảm giác thân thiết khi ở bên anh. Cuộc sống gia đình là một vở kịch hoàn hảo. Tình cảm là mối liên kết được tạo thành từ ràng buộc trách nhiệm và mặc cảm tội lỗi. Anh là người đã gây ra tai nạn giao thông cho cô. Họ sống với nhau như thế một thời gian. Rồi anh phát hiện ra cô vợ trẻ đang che giấu một bí mật to lớn. Người bác sỹ gia đình trong một lúc vô ý đã để lộ ra sự thật về bệnh tình của cô. Khi đó, anh chỉ im lặng. Trong đôi mắt lóe lên một ánh sáng lạnh. Anh vừa gặp lại người vợ cũ không lâu. Chứng kiến cô ta sống cuộc đời khổ sở sau khi đã kiên quyết rời bỏ anh. Sự thỏa mãn cho những tổn thương phải gánh chịu năm xưa chỉ bùng lên phút chốc. Sau là tình yêu cũ tìm về. Anh muốn sống phần còn lại của cuộc đời mình bên cạnh người phụ nữ có ánh mắt sâu hút như giếng khơi ấy.
Một buổi sáng, anh đẩy xe lăn của vợ ra bể bơi. Rồi thản nhiên đặt cô xuống nước. Không một lời giải thích. Không một cái nhíu mày. Không một chút biến sắc trên gương mặt. Trong bộ vest đen sang trọng, thanh lịch, anh đứng nhìn chăm chú xuống làn nước xanh đang chập chờn xao động.
Mười phút sau, người vợ trẻ run rẩy ngoi lên từ bể bơi. Cô đã cố gắng hết sức nhưng không khí trong buồng phổi cứ dần dần ra đi. Giữa tình yêu có được bằng cách cầm giữ và sinh mệnh của mình, cô buộc phải lựa chọn. Người chồng vẫn đứng điềm nhiên nhìn cô. Ngay cả khi cô quỳ xuống chân anh cầu xin tha thứ, với gương mặt đỏ bừng, với hơi thở ngắt quãng, khuôn mặt còn đọng nguyên nỗi kinh hoàng, anh cũng chỉ lạnh lùng bỏ đi.
Thế là hết. Tất cả sẽ kết thúc ở đây.
Người vợ trẻ đập vỡ cái bình hoa thủy tinh mà sinh thời bố cô yêu quý nhất. Đập cho đến khi nát vụn mới kỳ thôi. Sau đấy rải khắp khoảng sàn nhà đối diện cửa ra vào. Cô trở về phòng, tắm trong mười phút, thay một bộ váy trắng đơn giản. Đi chân trần ra giữa những mảnh vụn ấy. Và cầm trên tay một mảnh vỡ sắc nhọn. Ngay khi cửa mở ra, người đàn ông chung chăn gối bước vào, cô cắt mạnh nơi cổ tay. Rồi ngã xuống.
Những giọt máu đỏ tươi vương trên nền áo trắng gây cho tôi một sự thương cảm khó tả. Cả hình ảnh cô ngồi xếp từng mảnh vỡ thủy tinh thành một lối đi trong suốt. Cả khi cô ngã xuống, vẫn không rời mắt khỏi người đàn ông đó.
Để nói cho anh ta biết rằng. Cô yêu anh như vậy đấy. Dù cho sự lừa dối đã pha trộn vào thì tình yêu cô dành cho anh vẫn là như thế đấy.
/…/
Ở cửa hàng, tôi có một ngăn tủ riêng chuyên dùng cất giấu những DVD và CD tôi thích nhất. Thường chỉ có một số nhạc hòa tấu không lời bằng đủ thứ nhạc cụ. Một số phim tài liệu được dựng dưới dạng ký sự đường xa. Xem thể loại phim này quả thật rất thú vị. Một nhóm người trẻ cùng lên đường đi xa. Có nhà quay phim, có nhà biên tập, có cả họa sĩ design vi tính kiêm người đọc lời dẫn. Mỗi người một chiếc ba lô, theo xe lửa xập xình đi dọc chiều dài đất nước lạ. Ở mỗi nơi đi đến lại gửi về cho khán giả quê nhà những thước phim dựng liền trên đường du mục. Kiểu làm này khiến người xem cảm thấy rằng họ đang ở chung trong cuộc hành trình của đoàn làm phim. Cùng được ngắm nhìn, hít thở không khí, bầu trời ở những nơi xa kia. Cảm giác rất gần gũi và thú vị. Vì thế dù chỉ kéo dài mười lăm phút mỗi ngày, chuyên mục vẫn thu hút được sự quan tâm của khán giả. Đài truyền hình đưa tin, sự ủng hộ của khán giả trong và ngoài nước giúp nâng đỡ tinh thần đoàn làm phim rất nhiều. Rồi chiếu chồng thư cao ngất từ nơi nơi gửi về. Còn có cả một cô biên tập viên họ Triệu ngày ngày trích đọc thư giao lưu của khán giả đang cư ngụ ở đất nước đoàn làm phim đi đến. Tôi theo dõi chương trình ấy hàng đêm. Cảm thấy rất thích. Trong tôi có một thú vui khó hiểu chỉ hiện ra khi được nhìn thấy cảnh đồng trống và trời quang mây tạnh mênh mông nơi xa. Tôi thích cảnh thiên nhiên. Nhưng phải là thiên nhiên hoang sơ, thiên nhiên thuần trắng. Không có bất cứ sự chen ngang nào của con người.
Chỉ sau hai tuần kể từ buổi phát sóng đầu tiên, DVD lậu về chương trình ký sự hỏa xa đó đã có mặt ở cửa hàng tôi. Rất nhanh chóng, tôi xếp chúng vào danh mục yêu thích của mình. Trước đó, ngoài CD nhạc hòa tấu, tập thứ mười tám của bộ phim “Phượng hòang lửa” là DVD duy nhất nằm ở nơi đó. Còn lý do vì sao cất giữ tập phim đó, tôi đã kể ở trên.
Trong “Phượng hoàng lửa” có một cảnh phim tôi rất thích. Cô gái trẻ đang tìm cách đến gần cái chết. Sự lừa dối của cô bị vạch trần bởi chính người đàn ông cô yêu. Anh ta thành đạt, trí thức, lịch lãm. Là mẫu nhân vật các nhà biên kịch tạo ra để lừa mị phụ nữ. Cô gái trẻ của tôi lại là một người nhẹ dạ, cả tin. Cô yêu anh ta, khao khát được làm vợ anh, được ngày ngày chăm sóc, nội trợ cho anh. Cuối cùng thì anh ta lại là người đẩy cô về phía tử thần. Tôi còn nhớ, cô là một cô gái rất đẹp. Tóc đen dài đến thắt lưng, thích dùng màu son thắm, lông mi vừa dài vừa cong, gương mặt hoàn hảo không tì vết. Chỉ có đôi mắt chất chứa nhiều suy nghĩ và đôi môi ít khi được thoải mái tươi cười.
Ngày hôm đó, cô không có gì khác biệt so với mọi hôm. Chỉ mặc một bộ đầm trắng dài ngang gối rất thanh tao. Rồi đứng ở cửa ra vào đợi anh về. Cô đã đợi rất lâu. Cô đã đợi trong từng tiếng kim đồng hồ chậm chạp lê mình. Trong lúc đó, tôi không rõ cô đã nghĩ gì. Nhớ lại những tháng ngày sống bên anh ta? Nuối tiếc cho những đứa con của cô và anh chưa kịp chào đời đã không còn mẹ? Thêm một chút hy vọng mong manh, tự hỏi, anh sẽ khóc như thế nào trong đám tang cô, sẽ cảm thấy trống vắng vì chiếc giường chung trở nên quá rộng trong bao lâu? Và sẽ cần hết thảy bao nhiêu ngày tháng để có thể hoàn toàn vứt bỏ quá khứ có cô?
Tôi cảm thấy thương cô. Tôi chưa từng thấy một nhân vật phản diện nào lại đáng thương và ngu ngốc đến thế. Trong nhiều ngày liền, tôi cứ nghĩ về cô. Nghĩ và tự đặt ra giả thiết, nếu được giao cho quyền sắp đặt cuộc đời cô, tôi sẽ bắt cô diễn như thế nào? Như thế nào đây? Tôi muốn một cuộc đời sôi nổi. Tôi muốn một mối tình long lanh như sóng biển buổi hoàng hôn. Nhưng nỗi nhớ và ký ức về nó không dễ dàng vỡ tan như bọt xà phòng. Tôi muốn đôi tình nhân của tôi nhận thức rõ một điều, không có gì là mãi mãi. Người nữ có quyền giận dỗi. Người nam cứ việc say nắng với bất cứ đồng nghiệp xinh xắn nào. Nhưng đứng trước tôi, họ phải làm chủ được tình yêu của mình.
Cứ nói cho tôi biết khi nào các bạn chán nhau, tôi sẽ gấp đôi trang giấy, bẻ gãy ngòi viết, sẽ dây mực vào mọi quang cảnh tươi sáng. Sẽ đặt bên cạnh người yêu bạn một người yêu khác. Sẽ khiến cho một người yêu bạn và một người rời bỏ bạn.
Cho nên, đừng giấu tôi, cứ nói cho tôi biết khi nào các bạn chán nhau. Và chán cả việc làm nhân vật của tôi.
Cô gái trong tập mười tám của “Phượng hoàng lửa” thật bất hạnh. Cô ấy đã không gặp được người biên kịch tốt. Cô ấy đã không có cơ hội nói với cô ta rằng, ngừng lại đi, tôi mệt mỏi quá rồi, tại sao tôi cứ phải theo đuổi một người không yêu tôi. Trong mắt anh ta không có hình bóng tôi, bàn tay anh ta muốn nắm lấy không phải là của tôi. Giấc mơ về những đứa con ngoan cũng không muốn chia sẻ cùng tôi. Cô là người tạo ra tôi, sao lại không thể cho tôi người đàn ông của riêng tôi?
Tôi cảm thấy thương cô gái ấy. Trong những DVD tôi đã xem, chưa từng có nhân vật nào đáng thương như cô. Cô bị bắt buộc đuổi theo một tình yêu vô vọng. Cô bị bắt buộc tắm trong mười phút, thay ra bộ quần áo yêu thích bằng một chiếc đầm trắng tinh khôi. Các nhà biên kịch ngày nay thường thích cho nhân vật của họ mặc màu trắng. Con gái mặc màu trắng sẽ thanh tao và sáng trong tuyệt vời. Con trai thì hào hoa phong nhã chẳng ai bì kịp. Cô gái của “Phượng hoàng lửa” đã mặc màu trắng kinh điển đó, đứng giữa con đường thủy tinh trong suốt, mang vẻ bi thương trong mắt, chờ đợi người đàn ông không thuộc về cô.
Cửa mở ra vào giây phút đạo diễn hô to “action”. Và máy quay từ bốn phía ngay lập tức lia đến. Người đàn ông màu trắng thanh nhã bước vào, cô gái của tôi ngã xuống. Máu từ cổ tay cô chảy ra, từng giọt, từng giọt, đẹp tang thương như nụ cười đang nở ra trên môi cô. Trong kịch bản, đó là nụ cười oán trách dành cho người đàn ông thanh nhã kia. Nhưng tôi biết, đó là nụ cười mãn nguyện nhất cô từng có. Tôi nghe thấy một giọng nói hoàn toàn nhẹ nhõm và thoải mái vang lên. Rất giống đọan điệp khúc cao trào trong một bản nhạc pop tươi vui. Cô gái ấy đang hát. Là cô gái của tôi đang hát, tự do rồi, tôi đã được tự do rồi. Tôi sẽ chết vì máu của tôi đã chảy ra. Dòng máu chứa đựng tình yêu ngốc nghếch tôi dành cho anh ta, chỉ một vết cắt sâu, tất cả đã được giải thoát. Tự do rồi, tôi đã tự do rồi. Tạm biệt, tạm biệt!
Cô gái trong “Phượng hoàng lửa” cuối cùng cũng có được điều cô muốn. Cô ngã xuống, nhắm mắt nhưng miệng vẫn cười rất tươi. Tôi nghe thấy tiếng cô cười giòn, và luôn miệng say sưa thốt lên hai từ tạm biệt.
Rồi sau đó, người ta bảo cô đã chết ở bệnh viện, trong một buổi sáng tháng năm.
Tôi mỉm cười khi nghe những nhân vật khác trong phim bảo thế. Họ cũng như nhà biên kịch xuẩn ngốc kia, chẳng ai biết được rằng, cô ấy đã đi đến một nơi khác. Nơi ấy, có ánh Mặt Trời chan hòa làm má cô ửng hồng. Và trong bộ váy ngắn màu xanh, cô vui vẻ chạy đến một người thanh niên đang thổi kèn Harmonica nơi góc phố. Rồi sau đó duyên dáng nhảy một điệu ngẫu hứng trên hè phố trong tiếng kèn của anh. Ánh Mặt Trời tháng năm ửng hồng trên má cô. Tôi vẫn cảm thấy thương cô. Trong những nhân vật tôi yêu và không yêu, chưa có ai mong chờ một điều đơn giản đến thế ở người đàn ông thuộc về họ. Nhưng cô thì chỉ cần như thế, được mặc bộ áo có màu sắc mình thích, được mang giày đế thấp chạy dọc theo hè phố, được trông thấy người yêu cô đang thổi kèn Harmonica ở cuối phố.
Cũng chưa có ai như cô, vào giờ phút ấy vẫn còn bận lòng nhớ đến người nữ khán giả luôn dõi theo số phận của cô, để kịp quay đầu lại trước khi màn đen kết phim xuất hiện, bảo tôi rằng, tôi xong rồi, cuộc sống của tôi thế là trọn vẹn rồi. Còn cô thì sao?
Tôi, tôi thì sao?
Tôi vẫn đang đi tìm. Cuộc đời tôi là một chuỗi ngày dài tìm kiếm. Tôi tìm mãi, ngày này qua ngày khác, cũng không rõ mình đang tìm kiếm điều gì. Người ta cứ đến với tôi rồi lại đi ngay. Không giữ được, có cố cũng không giữ được.
Cô gái của Phượng hoàng lửa, cô có một nhà biên kịch thờ ơ với chính nhân vật của cô ta. Nhưng dù sao người ấy cũng đã giúp cô đi trọn cuộc đời của mình. Còn tôi thì khác. Tôi phải vừa đi vừa vạch ra cho mình bước kế tiếp. Như một người ăn bữa sáng chưa xong đã phải đắn đo xem trưa nay lót bụng bằng món gì. Như một thằng bé dành dụm tiền trong heo đất, chưa đập ra đã biết rất rõ số tiền mình có trong tay. Như một con diều giấy khổ sở. Nó khổ sở vì biết nếu bay lên thể nào cũng vướng vào muôn đường dây nhợ trùng trùng ở khu đô thị. Nhưng trước ngọn gió Nam đang thổi, trước ánh mắt mong chờ của cậu chủ nhỏ đã loay hoay bên nó cả buổi chiều qua, nó không thể không nhận lời. Cuối cùng nó vẫn cất mình lên. Bay lượn trong năm phút rồi sau đó chơi vơi suốt mùa hè trên đỉnh cột điện xám xanh.
Người con gái bị giam cầm bởi tình yêu của mình, cũng như con diều giấy mắc nạn chỉ có thể buồn bã ngước nhìn về phía trời xanh.
Đó là một câu so sánh đau lòng nhất tôi từng nghe thấy.
Cô gái của “Phượng hoàng lửa”, người con gái ấy không thể nào lại là tôi. Cô có nghe thấy không?
/…/
Tôi ngờ rằng trong buổi sáng thứ bảy này đây, ký ức của tôi đã mưu toan đến việc làm phản. Những dòng hồi ức, như những sợi kim loại mảnh, thường lóe lên ánh sáng lung linh và huyền ảo vào những đêm tối trời, đã bất giác trỗi dậy trong đầu tôi. Không cần xin phép, cũng chẳng màng đến phản ứng của chủ nhân mình, chúng nhanh chóng thoát ra khỏi sự giam cầm bấy lâu nay. Hiện ra bên trái tôi, bên phải tôi, trước mắt tôi, nhẹ nhàng và sống động như một thực thể đang tồn tại, với một cơ thể ấm, một trái tim nóng và đôi mắt như xoáy nhìn vào tôi.
Tôi nhìn xuyên qua thực thể tạo thành từ những dòng hồi ức đứt quãng đó, thấy lại mình của những năm tháng đã qua. Tôi không rõ mình có xúc động, có bàng hoàng hay kinh ngạc đến mức lặng người và ấp úng mãi không nói nên lời?
Nhưng tôi biết, tôi đã ngồi trên băng ghế đợi trong tiền sảnh bưu cục rất lâu. Điều hòa mở. Bồn hoa xanh mướt. Người ra vào cười nói lao xao. Tiếng nước chảy vẳng ra từ bồn rửa mặt ở nhà vệ sinh cuối hành lang. Tôi chờ đợi. Tôi có một câu chuyện đang ở hồi dang dở. Bắt buộc phải cho mọi người cùng biết kết thúc của nó là như thế nào. Câu chuyện gồm có tôi, Đơn Dương, ý muốn cháy bỏng được nghe thấy giọng nói của anh, vài thủ tục hành chính rườm rà, và một buổi sáng thứ bảy tôi cố gắng làm cho mình khác đi.
Câu chuyện về đường thoại dài.
Nó đã xảy ra rất nhanh. Ngay khi người nhân viên ở quầy giao dịch buông ra câu hỏi đầu tiên, tôi đã nhìn thấy trước kết thúc của nó.
Mặc áo dài màu xanh nước biển, trên ngực áo gắn thẻ nhân viên, cô yêu cầu tôi cho xem các loại giấy tờ tùy thân.
- Tôi chỉ có thẻ chứng minh nhân dân – Tôi trả lời cô ấy.
Ngay lập tức, đôi mày người con gái đó chau lại. Cô đang tỏ ý không hài lòng.
- Như thế thì không được. Chúng tôi cần có sổ hộ khẩu của gia đình chị, sơ đồ lắp đặt đường dây và một số xác nhận khác của địa phương.
- Những thứ đó tôi không có. Tôi chỉ có thẻ chứng minh nhân dân mà thôi.
Tôi nói rất vội, cố giải thích cho cô ấy hiểu đó là thứ giấy tờ duy nhất còn giá trị đối với tôi. Trên đó còn lưu lại tên tuổi, quê quán, dấu vân tay của tôi. Những đặc điểm cơ bản nhất định hình nên sự tồn tại của một con người. Tôi đã nhớ việc giữ lại chúng rồi và luôn mang theo bên người. Như thế còn chưa đủ hay sao?
- Thế này,… – Người nhân viên thở ra, có vẻ như bắt đầu mất kiên nhẫn -… ít nhất chị cũng phải chứng minh được mình là người của thành phố này. Khuyến mãi chỉ áp dụng đối với công dân Tân Hà, chị hiểu không? Chị có bất cứ giấy tờ nào chỉ rõ ra được điều đó thì hãy quay trở lại đây. Còn không thì…rất tiếc.
Hay quá. Cô ta nói hay quá. Rốt cuộc cũng đã nói ra được điểm mấu chốt của vấn đề. Miên không phải là người của thành phố này. Miên chỉ là một kẻ ở trọ ở phố Ngọc Hồi mà thôi. Cô ta ở trọ trong căn phòng hẹp, có cửa sổ nhìn ra đường ray xe lửa. Ở trọ, mỗi tháng chỉ cần chi trả một khoản tiền nhất định bao gồm cả điện nước. Thế là xong, chẳng ai quan tâm tới việc cô là ai, đến từ đâu và đến Tân Hà để làm gì. Chỉ cần cô sống tốt cuộc sống của riêng cô và đừng chỏ mũi đến chuyện của chúng tôi thì, mặc, chẳng việc gì phải dọ thám lẫn nhau.
Lẽ ra tôi nên vui vẻ mà chấp nhận cuộc sống được thừa nhận không chính thức như thế. Đằng này tôi lại còn đòi hỏi thêm. Có phòng trọ lại muốn thêm Đơn Dương. Có Đơn Dương lại muốn thêm đường thoại dài. Cuối cùng thì một người công dân sinh ra ở Tân Hà đã chỉ ra cho tôi thấy sự khác biệt cơ bản nhất giữa tôi và cô ta.
Thôi vậy. Tôi quay lưng, rời khỏi toà nhà cao tuổi nhất thành phố. Vừa lúc, một chiếc xe buýt trờ tới bên ngoài khu vực sân chính bưu cục. Lơ xe mặc áo sơ mi xanh thẫm, đội nón lưỡi trai nhơ bẩn thò đầu ra khỏi ô kính, nhìn tôi với vẻ săn đón, có lên xe không nào?
Tôi nhìn khuôn mặt già nua của ông. Những nếp nhăn hằn sâu trên vầng trán nhễ nhại mồ hôi. Ông nhìn tôi bằng đôi mắt hay nheo lại của người dân Tân Hà, chờ đợi tôi bằng dáng vẻ dịu dàng vốn có của người Tân Hà. Ông giống như Đơn Dương, giống như cô nhân viên ở quầy giao dịch kia, đều là người hít thở khí trời ở nơi đây mà sinh ra, lớn lên. Họ đều rất khác tôi.
Người lơ xe Tân Hà kiên nhẫn hỏi vị khách của ông thêm lần nữa.
- Cô có lên xe không? Có đi Đại Đồng Xuân không?
- Tôi, tôi không phải là người của thành phố này, tôi lên xe buýt của ông có được không?
Tôi nhận ra ông đang nhìn tôi với vẻ rất kỳ lạ. Trong mắt ông hiện ra một vẻ bối rối vô cùng khó xử. Tôi hiểu những gì ông đang nghĩ. Tôi biết rõ những gì ông đang cảm thấy, cả câu hỏi đầy lúng túng và quan tâm ông sẽ dành cho tôi sau vài giây nữa đây.
Vì thế, trước khi ông kịp nói thêm bất cứ điều gì, tôi đã nhẹ nhàng mỉm cười.
- Ông đừng lo. Cháu không có khóc, chỉ là nước mắt tự nhiên chảy ra thôi.
Nói rồi tôi bước qua ông để lên xe buýt.
Câu chuyện về đường thoại dài cũng kết thúc tại đây. Cuối cùng, tôi vẫn không có được nó. Vẫn phải ngày đêm chờ những lá thư Đơn Dương gửi về, và tự hình dung ra cảnh tôi trò chuyện với anh trong những lúc thèm được lắng nghe nhất.
Như thế cũng tốt, không, đã là tốt lắm rồi, vì ít ra tôi vẫn còn có thể lên được xe buýt ở Tân Hà.
B3 – Đơn côi.
Có lúc, tôi cảm tưởng như mình đang sống trong một khu vườn hoang vắng. Đang là mùa thu. Mùa của tiếng động xào xạc khi lá buông mình. Mùa của cây lá xác xơ hao mòn, của không gian tĩnh lặng, của những buổi tối tôi ngồi co ro một mình trong ghế trường kỷ. Đọc những lá thư mẹ để lại, ngắm nhìn ảnh của cha rồi sau đó khóc ướt đẫm giấc mơ của chính mình. Xung quanh tôi, gió đang lùa vào những gian phòng trống trong ngôi nhà cô đơn. Trước mùa gió nổi, tôi đã đi cửa hàng bách hóa nhiều ngày liền. Chỉ hỏi mua đồng hồ treo tường ở tất cả cửa hiệu mình đến. Phải đặt vào mỗi bức tường vôi trắng một cỗ máy đếm thời gian. Nhất thiết phải làm như thế. Tôi muốn được giữ lại ở thế giới này. Vì vậy mà phải tìm ra cách chống lại sự hoang vu của khu vườn. Tôi rất dễ phát điên. Kinh nghiệm bản thân cho thấy, khi điên lên con người ta thường phát sinh những ý muốn bất thường.
Cụ tỷ, tôi tha thiết mong rằng thế giới này sẽ biến mất đi.
Và mọi thứ trong nó.
Kể cả tôi.
3.
Bắt đầu thức khuya hơn trước. Chẳng làm gì khác ngoài việc đi đi lại lại trong phòng. Dò sóng FM tìm cho ra một chương trình ưng ý và nấu nước uống cà phê. Đôi khi cũng xem một bộ phim tình cảm mang về từ cửa hàng băng đĩa. Không thì ra bệ cửa sổ ngồi, lấy thuốc lá ra hút. Nhắc đến thuốc lá lại nhớ đến Đơn Dương. Theo lời chỉ dẫn của anh đã tìm mua được thuốc lá hiệu Javel. Hai ngàn năm trăm đồng một gói, giá rất hợp với túi tiền một người có thu nhập trung bình như tôi. Cũng không ngờ giá lại rẻ đến thế. Bà chủ cửa tiệm tạp hóa đầu phố bảo, đó là lọai thuốc bán chạy nhất ở cửa hàng. Những người đàn ông ở phố này cũng thường ghé lại mua sau giờ làm việc. Thỉnh thoảng cũng có đàn bà con gái nhưng không nhiều. Tôi là một trong số ít đó.
Chẳng hiểu sao thích nhìn những người đàn ông hút thuốc, trông họ có một vẻ chững chạc và từng trải rất lạ. Cứ như thể màn khói thuốc mỏng biến họ trở thành một kẻ xa lạ. Bỗng trở nên thô ráp và cẩn trọng hơn trước những đổi thay khôn lường của cuộc sống. Tuy nhiên, áp dụng vào bản thân tôi, không hẳn là một hình ảnh đẹp. Cô gái trẻ ngoài hai mươi tuổi. Mái tóc dài ngang vai ít khi gội chải, bàn tay với nước da trắng xám, đôi mắt luôn thất thần vì những đêm không ngủ. Cô gái ấy, giờ đây đang tập cho mình thêm một thói quen xấu. Cố tìm cách chìm đắm vào trong mê ảo, khóac cho bản thân một lớp vỏ trưởng thành nhờ khói thuốc. Rồi cứ thế đi về trong thế giới riêng của cô ta. Chẳng họ hàng. Không bạn hữu. Chỉ có những đêm dài tự thỏa mãn tất cả những nhu cầu tâm sinh lý của bản thân. Dần dần, trở nên quen thuộc với lối sống khép kín. Quên mất cách bộc lộ những cảm xúc cá nhân. Chỉ vì lâu nay luôn luôn nói và nghe chỉ một mình.
Tôi biết, nếu cứ sống như thế này thêm vài ba tháng nữa, tôi sẽ thành ra như thế.
/…/
Có lúc cũng nghĩ rằng mình nên đi tìm một sợi dây thân tình nào đó. Giúp kết nối bản thân với những người lạ xung quanh. Phải thử tìm cách chạm vào người khác. Dùng tất cả những phương thế bản thân có thể nghĩ ra. Như trường hợp của Đơn Dương là một lá thư trút bỏ niềm tâm tư thầm kín. Nhờ thế có thể bộc lộ bản thân mình rất dễ dàng. Nhưng cảm giác đó không dễ gặp lại lần thứ hai. Tôi là đứa rất tin vào cảm giác của cá nhân mình. Có thói quen đánh giá người khác ngay lần đầu tiên gặp gỡ. Chỉ từ một ánh nhìn đã có thể quyết định ngay sẽ tiếp tục hay ngừng lại mối quan hệ với một người.
Thật ra, tôi không phải dạng người khó kết giao. Luôn tìm ra được nhiều lý do để đến gần một ai đó. Như một mùi thơm có tính chất ám ảnh của người con gái trong cửa hàng bách hóa. Tấm áo sờn rách đôi chỗ nơi vai của anh thợ hồ đang chen lấn trong đám đông trên xe buyt. Nụ cười và ánh mắt trong trẻo của đứa trẻ bên vệ đường. Em đứng sau cánh cửa lưới, trên một chiếc ghế nhựa chân thấp, hai tay bíu vào miệng lưới, chân cố hết sức nhón cao. Phía sau là người bà luôn trông nom em từng giây từng phút. Trên đường, từng dòng xe cộ đông đúc hối hả phóng vút qua. Có quá nhiều nguy hiểm khi bước chân ra khỏi ngôi nhà của mình. Vì thế mà ở tuổi lên ba, em đã phải ngắm bầu trời qua những ô cửa mắt cáo. Giả sử tôi là một tay nhiếp ảnh gia đang trên đường lang thang phiêu bạt, ngay lập tức sẽ đưa em vào trong ống kính của mình. Hình ảnh vẽ ra thôi cũng khiến tim đập nhanh và chao nhịp bất thường. Bầu trời xanh. Mặt đất đầy người đông vui. Nhà cửa là một dãy rào chắn san sát mang đầy vẻ phòng ngự. Người ta khoét cho em một lỗ trống bé nhỏ. Đặt vào đó một cánh cửa lưới có những ô mắt cáo tươi vui. Rồi em ở sau nó, vui trong thế giới của riêng mình.
Còn tôi thì đứng bên kia đường, ngắm mãi hình ảnh em trong ánh nắng. Tin rằng đó là cảnh tượng duy nhất còn trong sáng trên thế gian này. Đặt bên cạnh nó, mọi thứ khác đều trở nên mờ nhạt. Buồn đau bị xóa nhòa. U hoài chẳng là gì. Tôi bỏ mặc hết thảy những con người khác. Chỉ biết có em mà thôi.
/…/
Tháng sáu, mưa nhiều nhưng nắng cũng ơ hờ không kém.
Có những trưa trời đang chói gắt, chiều đến đã thấy mưa rả rích rơi đầy. Cửa hàng mở đến 4h thì đóng. Cũng có lúc tôi để cho Thuyên về trước, còn mình thì ở lại thêm một lúc. Cậu ta tỏ vẻ ái ngại về điều đó. Tôi trấn an bằng một lời giải thích đơn giản, có một người khách quen luôn đến sau 5 giờ chiều. Tôi phải ở lại đợi vị khách ấy.
Đó là một lời nói dối rất vụng về. Hẳn Thuyên cũng nhận ra, song cậu ta không lần nào hỏi lại, chỉ bảo tôi nhớ về sớm, con gái đi đường một mình ban đêm thì không tốt lắm. Tôi gật đầu, ra ngoài cửa tiệm đứng nhìn theo Thuyên. Đến khi cậu khuất sau một đại lý gas ở ngã tư đèn xanh đỏ gần đó mới quay vào.
Làm chung nhau đã hơn ba tháng, chúng tôi chưa bao giờ trò chuyện nhiều hơn năm câu. Một phần vì tôi không có nhu cầu đó. Phần khác, những vấn đề tôi và cậu ta quan tâm chẳng giống nhau. Nếu tôi hỏi, buổi tối ở nhà một mình thấy thế nào ? Thuyên sẽ trả lời ngay, em ở chung với một người bạn. Hai đứa thường rủ nhau đi quán, còn không thì chơi game hay xem bóng đá, phim lẻ trên ti vi. Cũng hơi buồn nhưng quen rồi.
Trong cách sử dụng ngôn ngữ, giữa tôi và cậu ta không có điểm chung. Giống như một dãy số từ không đến chín. Nếu tôi đặt trước mặt Thuyên con số một, cậu ta ắt sẽ thêm vào ngay số hai. Thứ tự rạch ròi, rõ ràng đôi khi tạo ra những khoảng cách vô hình. Kiểu như một kẻ vụng về, ngớ ngẩn sẽ không bao giờ đến gần một người nho nhã, lịch thiệp. Chuyện kết bạn tất nhiên lại càng không tưởng. Mỗi bên đều tự nhận thấy vị trí của mình và đối phương khác nhau. Có cố gắng vun đắp tình cảm đến mấy thì sự khác biệt về suy nghĩ, lối sống vẫn sẽ là vách ngăn không thể nào phá vỡ. Cuối cùng thì vẫn là đường ai nấy đi. Nhận ra điều đó rồi, tôi không muốn lãng phí thời gian thêm nữa. Thế là an phận làm bạn đồng nghiệp của nhau, cả hai đều không mong chờ điều gì sâu xa hơn ở mối quan hệ này. Điều này tôi biết, Thuyên biết. Nhưng chẳng ai nói ra. Một sự đồng lõa dễ chịu.
Ngày ngày đến cửa tiệm, tôi lo phần ghi chép sổ sách, thu ngân, xem lại những đơn mượn quá hạn trả. Còn công việc của Thuyên thực tế hơn. Phục vụ những nhu cầu khác nhau của khách. Play thử disk, chép nhạc, giới thiệu một vài bộ phim đang đắt khách ngoài rạp. Ngoài ra còn nhận cả việc giao hàng tận nhà. Số điện thọai của cửa hàng được viết dọc theo mảng tường trống hai bên cửa ra vào. Gần giống kiểu chạm khắc hoa văn trang trí trên cột lớn trước thềm những ngôi nhà xưa. Khách nếu quan tâm sẽ tự khắc ghi lại, khi nào có nhu cầu thì bấm máy. Tôi là người trực điện thọai. Làm nhiệm vụ thống kê. Sau đó sẽ chuyển lại cho Thuyên tất cả những đơn hàng ở xa.
Cậu ta có một chiếc xe đạp leo núi màu xanh, sườn dán chi chít những hình decal kỳ dị. Hay dựng nó trong góc tường sau quầy thu ngân. Mỗi ngày, vào khoảng ba giờ chiều, người trên đường Tứ Giang hay nhìn thấy một cậu con trai tóc cắt cao, mũ lưỡi trai đội ngược, túi xách đen choàng ngang vai, phóng ra từ cửa tiệm nhỏ. Bên trong, còn lại một cô gái ngồi chống tay trên quầy gỗ, đọc tất cả những tấm áp phích giới thiệu phim trên bức tường xung quanh mình.
Tám giờ mỗi ngày của tôi đều trôi qua như thế. Đều đặn. Chưa lỗi nhịp bao giờ.
/…/
Hồ Khả xuất hiện vào một buổi chiều cuối tháng sáu.
Hôm đó, trời từ sáng đã âm u. Đến 9 giờ hơn mặt trời vẫn còn trốn mình sau mây. Người qua đường cũng vội vã hơn thường ngày. Mấy tay bán dạo cứ qua lại trên con đường Tứ Giang, cầm trên tay những xâu móc khóa có ảnh mát mẻ của các cô diễn viên, người mẫu, cố hết sức gây chú ý cho những người xung quanh. Khi phát hiện thấy ánh mắt nào tỏ ra có hứng thú là lập tức áp sát lại, trổ tài mời chào bằng một cung cách chuyên nghiệp đã trải qua nhiều tập luyện. Trong chiếc hộp gỗ họ đeo trước ngực, có đủ những món đồ linh tinh ít ai nghĩ đến. Dụng cụ cắt móng tay, bao diêm, tượng quan âm nhỏ, radio hình con thỏ màu xanh lá cây, tuyển tập những vụ án nổi tiếng qua các thời đại, hộp quẹt gas dùng chỉ một lần, chổi lông gà màu vàng xanh đỏ, có cả tăm tre, bông ngoáy tai và nhẫn bạc đủ mọi kích cỡ…Họ cũng rất hăng hái trong việc rao hàng. Với một đôi dép xỏ ngón đã mòn đế, rong ruổi cả ngày trên những con đường trong thành phố. Chỉ đem theo bên mình một chai nước nhỏ, che nắng bằng một áo sơ mi dài tay đã cũ và chiếc nón rộng vành. Nếu là phái nữ, trên gương mặt sẽ trang bị thêm một chiếc khẩu trang to, trong đôi mắt sẽ ánh lên cái nhìn lo buồn khắc khoải. Ít ai biết được nỗi buồn lo của họ. Càng ít hơn những người quan tâm đến sự khắc khoải ấy.
Những lúc buồn ngủ, tôi hay đợi những người bán dạo ấy đi qua, gọi họ vào, mua một quyển sách nhàm chán nào đó. Rồi đọc chỉ dăm ba trang, sau đó úp mặt lên nó mà ngủ.
Giấc ngủ được mua với giá của một tô phở bình dân. Có lẽ vì thế mà chưa bao giờ tôi có được một giấc mơ đẹp. Lần nào cũng là một ai đấy nói với tôi lời xin lỗi, rồi bỏ tôi mà đi. Người đó đi trên đường lớn, đi qua cầu vượt, đi trong những ngóc nghách của thành phố lạ. Những nơi đó không hề có tôi. Luôn luôn là như thế.
.
.
.
.
Nhưng buổi chiều hôm Hồ Khả xuất hiện là một ngoại lệ. Anh là một giấc mơ đẹp. Mãi cho đến sau này tôi vẫn luôn nghĩ như thế. Áo len trắng cổ cao, áo khoác ngoài màu kem nhã nhặn, quần âu may theo kiểu cách hiện đại hơi ôm ở ống chân, tóc chia ngôi 7/3 để lộ vầng trán cao thanh tú. Sau mắt có những nếp nhăn mảnh khi cười. Hàm răng rất đẹp. Sáng trắng và đều đặn. Ở cổ tay bên trái có đeo một chiếc vòng kết bằng chỉ đỏ.
Giấc mơ đẹp đến với tôi trong hình dáng một người thanh niên như thế.
Từ trong cơn mưa, anh xuất hiện, một tay cầm ô trắng cán đỏ, một tay xách chai nước khoáng vừa mở nắp. Rồi tự nhiên ngửa cổ uống trước mặt tôi. Xem cửa tiệm nhỏ thân quen như ngôi nhà của mình. Cảm giác lúc ấy thật kỳ khôi. Giống như đang xem một bộ phim nhàm chán, đúng lúc chuẩn bị rời khỏi rạp thì bỗng nhiên một ánh sáng xuất hiện, đem lại luồng sinh khí mới, hút chặt ánh mắt của mọi người vào màn ảnh. Trong ánh sáng mưa bên ngoài hắt vào, Hồ Khả biến thành một diễn viên đại tài trong mắt tôi. Thân hình anh, chiếc áo sơ mi trắng của anh, những ngón tay của anh, mọi cử chỉ, ngay cả hơi thở, chuyển động lên xuống của yết hầu ở cổ anh khi đưa nước vào trong cơ thể, tôi đều không bỏ sót.
Lúc đó, chỉ cần có thêm một đôi cánh trắng nữa thôi, tôi sẽ không ngần ngại gọi tên anh là Thiên Sứ. Dù hiện tại đây, anh chẳng biết tôi là ai. Và câu đầu tiên anh nói cũng mang đầy tính khách sáo của những mối quan hệ mua bán thường tình trong xã hội.
Tôi đang tìm nhạc của Paul Anka. Ở đây cô có không?
Tôi mỉm cười trước khi đứng dậy, đi tìm nhạc của Paul Anka cho anh. Cảm thấy đầu óc hơi chếnh choáng. Mỗi khi uống quá nhiều cà phê trong một buổi tối lại có cảm giác như thế. Khi đi ngang qua dãy kiếng ốp tường ở khu vực trưng bày nhạc quốc tế, tôi trông thấy một cô gái đang nhìn lại mình. Đôi mắt ngơ ngác nhưng toàn thân hoang dại, cứ như sắp sửa gào to cho cả thế giới biết, cô ta đã tìm thấy người đàn ông của riêng mình.
/…/
Tôi chưa bao giờ biết được rằng, Hồ Khả là một Thiên sứ đã có chủ. Trái tim anh đã không còn tự do. Đôi mắt anh đã bị trói buộc bởi hình ảnh một người. Một cô gái thích nhạc của Paul Anka. Hàng đêm đều nghe I don’t like to sleep alone trước khi lên giường. Nghe đi nghe lại, replay disk đến mức mụ mẫm cả tinh thần. Những lúc đó, anh lại có mặt bên ngoài cửa phòng cô. Vẫn trong dáng vẻ của giấc mơ đẹp, anh ở đó, canh giấc ngủ cho cô.
Chỉ vì cô gái ấy là một người rất sợ cô đơn.
Tôi không hiểu, tại sao Thiên sứ đến từ mưa của tôi lại yêu một người sợ cô đơn? Anh đủ can đảm để đối mặt với bóng tối trong lòng mình sao?
Ba tháng tiếp theo đó, tôi không hề gặp lại anh. Sau khi cầm trên tay đĩa nhạc của Paul Anka, anh đã nhanh chóng biến mất. Bỏ lại tôi một mình cùng những đêm dài mộng mị. Thấy anh lại bước vào cửa tiệm nhỏ, vẫn một tay cầm ô, một tay xách theo chai nước khoáng uống dở. Áo anh màu trắng, mắt anh lấp lánh khi cười. Hơi thở ấm áp, những ngón tay duỗi dài bình yên bên thân người. Cũng có khi, anh đồng ý trò chuyện cùng tôi, mời tôi đi dạo, dịu dàng nghiêng cán ô che mưa cho tôi.
Chúng tôi đi tìm một gốc cây ngô đồng. Tân Hà chẳng có con đường nào trồng ngô đồng nhưng chúng tôi vẫn bị thôi thúc bởi y nghĩ tìm ra một bóng cây ngô đồng. Anh bảo rằng, từ nhiều năm trước đã đặt dưới bóng cây ấy một băng ghế trắng, và tự hứa với lòng rằng sẽ dẫn cô gái anh yêu đến nơi đó. Tặng cho cô ấy nụ hôn đầu tiên của anh.
Hôn một Thiên sứ dưới bóng cây ngô đồng. Trong đời tôi quả không còn niềm hạnh phúc nào hơn. Thế là trái tim tôi bắt đầu nhảy múa. Bình thường nó vốn hiền lành và dè dặt, luôn từ chối chủ động mở đầu một cảm xúc nào đấy. Nhưng giờ đây đi bên cạnh Thiên sứ của mình, nó tìm thấy một chân trời mới. Thế là vui mừng nhảy múa. Phấn khởi reo lên những nhịp đập xôn xao. Đến mức lồng ngực tôi cũng cảm thấy đau nhói. Cứ mỗi bước chân, trái tim nhỏ bé đó lại tự nghĩ ra cho mình những điệu nhảy mới. Mỗi lần nó thay đổi bước nhảy, tôi lại càng đau hơn.
Nhưng tôi không thể dừng lại. Vì bên cạnh tôi là Thiên sứ đến từ mưa, trong hơi thở mang theo vị mát lành và tinh khiết của một đêm lá đổ đầu đông. Tôi và anh lại trên đường đi tìm băng ghế nhỏ. Từ băng ghế nhỏ, một nụ hôn sẽ được bắt đầu. Tôi tha thiết muốn hôn Thiên sứ. Tôi tha thiết muốn ôm lấy anh, vùi mặt mình vào ngực anh, luồn tay mình qua tóc anh, để hơi thở của anh bao trùm lấy tôi. Biến tôi trở thành một con người mới.
Tôi muốn biết bao nhiêu việc độc chiếm anh cho riêng mình.
Tôi vẫn đang rất đau. Ôi, trái tim khốn khổ của tao, lẽ ra mày không nên quá phấn khởi như thế ? Mày không biết sao, cây ngô đồng còn ở rất xa, băng ghế đá cũng rất xa, nụ hôn của anh cũng rất xa. Mày không biết ư ? Mày khiến tao đau quá.
Trái tim vẫn nhảy múa. Nó cho rằng đây là cơ hội duy nhất được nhảy múa trong đời mình. Dù có là chủ nhân, tôi cũng không có quyền ngăn cấm nó.
Khi đó, bóng cây ngô đồng đã thấp thoáng phía trước mặt. Và tôi đã nghĩ đến việc dùng chiếc khăn tay trắng của tôi lau sạch vết nước vương trên mặt ghế. Tôi sẵn lòng làm việc đó. Chỉ vì đó là nơi chúng tôi sẽ ngồi xuống và sau đó hôn nhau. Trái tim tôi vẫn tưng bừng nhảy múa. Điệu múa cuối cùng khiến tôi đau đến mức muốn khóc. Nhưng trong lòng vẫn vui sướng khôn nguôi. Tôi thấy mình giống cô bé Lọ Lem trong giây phút chờ ướm chân vào chiếc giày thủy tinh hoàng tử đem đến. Chiếc giày đó là của nàng. Không một ai có thể giành lấy. Cũng như hoàng tử là của nàng. Không một sức mạnh nào có thể chia xa.
Rồi Thiên sứ nhìn tôi, nói với tôi câu đầu tiên kể từ lúc chúng tôi cùng nhau lên đường tìm băng ghế nhỏ. Anh nhìn tôi, gọi một cái tên khác. Anh gọi một cái tên khác, nhìn tôi, bảo rằng đó là tên người con gái anh yêu. Tôi chưa kịp có bất kỳ phản ứng nào thì ngay sau đó, những lời xin lỗi đã vang lên.
Xin lỗi lần đầu. Vì trái tim anh đã không còn tự do. Xin lỗi lần thứ hai. Vì rằng đôi mắt anh đã bị trói buộc bởi hình ảnh một người. Lần thứ ba. Một cô gái thích nhạc của Paul Anka. Hàng đêm đều nghe I don’t like to sleep alone trước khi ngủ. Nghe đi nghe lại, replay disk đến mức mụ mẫm cả tinh thần. Thêm một lần nữa. Những lúc đó, anh luôn có mặt bên ngoài cửa phòng cô ta. Vẫn trong dáng vẻ như khi ở bên tôi, anh ngồi đó, hàng đêm không ngủ, canh giấc cho cô.
Thiên sứ của tôi quả là tốt bụng. Anh đã yêu một cô gái chỉ vì sự đơn côi của cô ta.
Nhưng lại bỏ mặc tôi trong khu vườn hoang vắng của chính mình. Từ trong khu vườn đó, tôi ôm vào lòng những lời xin lỗi của anh, dõi mắt nhìn theo anh qua hàng rào tối sẫm, thấy màu áo anh rất trắng, mái tóc mềm mại của anh rũ xuống một bên trán, bàn tay anh cầm một chiếc ô cán đỏ. Trông anh rất vui vẻ, vừa đi vừa huýt sáo vu vơ. Con đường anh đi trải đầy ánh nắng. Anh là con người hạnh phúc nhất tôi từng được thấy. Rồi con người ấy đi qua tôi cùng với niềm hạnh phúc của mình. Anh không nhìn thấy tôi. Vì hàng rào quá tối, vì ánh sáng trong khu vườn quá nhạt nên anh không thể trông thấy tôi. Không nghe cả tiếng tôi gọi. Trong mắt anh chỉ có cô gái hàng đêm nghe đi nghe lại nhạc của Paul Anka. Bên tai anh chỉ là tiếng nhạc dịu dàng phát ra từ chiếc loa máy đĩa. Trong tim anh chỉ chứa duy nhất bóng hình một người.
Nước mắt tôi ứa ra. Tôi cảm thấy đau. Hẳn là trái tim tội nghiệp của tôi lại vừa nghĩ ra một điệu nhảy mới. Nó định rằng sẽ dành điệu nhảy ấy để chào mừng nụ hôn đầu tiên của tôi. Tôi muốn bảo nó dừng lại. Vì tôi đang đau lắm. Nếu cứ đau như thế, tôi sẽ chết mất trước khi chạm được vào anh.
Cả khu vườn chuyển động. Lá bắt đầu rơi, xoay vần trong gió thành những tâm xoáy đầy ánh sáng u tối. Tôi thấy vùng trời bên trên tôi chứa đầy những cụm mây xám. Chúng lao đi vùn vụt, giống đoàn thuyền anh dũng vẫn lao ra đại dương trong cơn bão lớn. Tôi không biết điều gì đang xảy ra. Nhưng nỗi đau trong tim tôi dường như đang dịu đi. Một luồng ánh sáng hồng từ đâu chiếu đến, giống nước mắt chim phượng hoàng trong truyện thần thoại, đã tìm cách an ủi trái tim bé nhỏ của tôi.
Ngoài kia, trên con đường lớn, Thiên sứ của tôi vẫn vừa đi vừa huýt sáo vu vơ. Con đường anh đi ngập trong màu nắng tươi tắn. Gương mặt anh bừng nở một nụ cười của sứ giả mùa xuân. Cùng với tiếng huýt sáo bay bổng, cùng với những tâm tình mơ màng và lãng mạn của mình, anh điềm nhiên đi qua tôi.
Trái tim nhỏ bé ơi, mày hãy thay tao ghi nhớ người Thiên sứ này. Anh sống dưới ánh mặt trời, đi những bước chân thong thả, mỗi khi cười sau đuôi mắt lại có nhiều vết nhăn. Anh thích uống nước khoáng, thích đi tìm nhạc của Paul Anka, thích đêm đêm canh giấc ngủ cho một người con gái khác. Ai cũng nói, anh là người đàn ông tốt vô cùng.
Trái tim tôi bật khóc. Nó không còn đủ sức để thực hiện bất cứ điệu nhảy nào. Nó cũng không đủ can đảm để nghe thêm bất cứ điều gì khác. Nó vốn hiền lành và dè dặt, luôn từ chối chủ động mở đầu một mối quan hệ nào đấy. Nhưng lần này, bị mê hoặc bởi hơi ấm của Thiên sứ, nó đã thử đến gần anh. Ngay vào lúc nó ngỡ rằng mình chạm được vào hơi ấm ấy thì Thiên sứ bay đi mất. Anh trở về với bầu trời xanh, với thiên đường mây trắng của riêng anh.
Còn tôi thì ngồi xuống băng ghế, tự mình an ủi trái tim tôi. Dịu dàng nói với nó rằng, bạn của tao ơi, đừng khóc nữa, đừng đau thương nữa, vì điều này đối với chúng ta chẳng xa lạ gì. Cũng như những giấc mơ vừa qua, lần nào cũng là một ai đấy nói với tôi lời xin lỗi, rồi bỏ tôi mà đi. Người đó đi trên đường lớn, đi qua cầu vượt, đi trong những ngóc nghách của thành phố trẻ. Rồi bỗng sau lưng anh xuất hiện đôi cánh lạ. Đôi cánh trong suốt không tì vết, như mặt hồ phẳng lặng, tựa tình yêu thầm kín của người con gái tuổi đôi mươi. Đôi cánh mang anh bay lên, đi đến những nơi không tồn tại tôi.
Luôn luôn là như thế.
/…/
Cuối cùng Đơn Dương cũng quyết định liên lạc với Miên.
Đầu tháng chín, tôi nhận được tin tức đầu tiên của anh. Một lá thư gấp đôi, màu mực xanh, nét chữ có phần vội vã. Con dấu bưu cục bên ngoài đề ngày 5/7. Địa chỉ ghi rất mơ hồ, Miên, phòng trọ tầng hai phố Ngọc Hồi, Tân Hà.
Vì thế có thể xem việc lá thư anh đến được tay tôi là một điều vô cùng may mắn.
Đơn Dương đang trên đường xuôi về phương Nam. Thư anh viết cho tôi trên tàu lửa, vào buổi đêm, khi bên ngoài cửa sổ là những cánh đồng, khu rừng, trang trại, làng mạc đang say ngủ. Anh bảo, rất thích những đêm như thế. Những người xung quanh anh đều ngủ hoặc đang chìm đắm vào những công việc riêng tư. Anh mở cửa sổ, để cho gió mát ùa vào rồi kê ba lô làm bàn viết. Cũng có khi anh đọc quyển tiểu thuyết yêu thích mang theo. Đó là một tập truyện ngắn viết về phong cảnh và nỗi buồn của nước Nga. Có rừng phong đang thay lá, có hồ nước ẩn sâu trong khe núi như một hạt lệ trong veo của đất trời. Có những mối tình thôn nữ giản đơn nhưng không hiểu vì sao khiến lòng anh se lại. Và anh nhớ nhất những khu vườn táo Antonov, con đường đi xuyên qua nó tăm tối nhưng lại dẫn ta đến một vùng ánh sáng ngập tràn. Có một nhân vật trong câu chuyện ấy, giữa một đêm tối trời đã đứng ngửa mặt nhìn lên trời cao. Giản dị thốt lên một điều chân thật, được sống trên đời này mới hạnh phúc làm sao! Hạnh phúc làm sao! Câu nói ấy ngân nga trong đầu anh, tạo ra những âm vang nhẹ nhàng đầy ánh sáng. Anh gấp sách lại, thấy lòng rất yên bình, thế là an tâm chìm vào giấc ngủ trên con tàu khuya. Khi tỉnh dậy, anh bỗng nhớ đến Tân Hà, nhớ đến Thư Xanh, nhớ những người đã từng lắng nghe anh nói. Cuối cùng, may mắn cho tôi, anh cũng nhớ ra Miên.
Lá thư của anh mang đến cho tôi sự mừng vui khó tả. Vì anh vẫn là người phát thanh viên dạo nào của Thư Xanh. Trong anh vẫn ẩn chứa một tâm hồn nhạy cảm, dễ xúc động và an lòng với những gì bình lặng. Vì thế nên dễ dàng tìm thấy động lực sống cho mình trong cuộc đời này.
Cuối thư, có cảm tưởng như anh đang nhìn tôi, ánh mắt đột nhiên hiện ra vẻ trầm ngâm khó hiểu. Hồi lâu sau anh hỏi, cùng lúc chạm nhẹ tay vào vai tôi. Bàn tay đã từng run rẩy ngồi kề bên tôi trong căn phòng này. Đôi lúc, tôi vẫn cảm thấy nhớ anh. Giờ đây, những dòng chữ trước mắt tôi càng làm cho nỗi nhớ ấy trở nên rõ ràng hơn.
//Miên, dạo này cô có còn đến Nge Ni Themba nữa không? Tôi đã tìm ra được ý nghĩa của cái tên đó. Trong tiếng Zulu, nó có nghĩa là “tôi tìm thấy hy vọng”. Cô có nghe thấy tiếng tôi đang đọc câu này không? Có nghe thấy rõ không? Là tìm thấy hy vọng đấy Miên à.
Nghe tôi một lần này thôi, cô hãy đến đó, trò chuyện với Hồng Hạc và hỏi chị ta, làm thế nào để được là Nge Ni Themba ? Nếu hỏi lần đầu không có câu trả lời thì tiếp tục hỏi lần thứ hai. Lần thứ ba cô cũng đừng ngại. Cứ hỏi cho đến khi nào cô biết được,
Làm thế nào để được là Nge Ni Themba ?//
Tôi nghĩ mình nên nghe theo lời khuyên của Đơn Dương. Tôi vẫn hút thuốc lá hiệu Javel trong lúc đọc thư anh. Vậy không có lý do gì để từ chối thêm một lời dẫn dắt tử tế khác. Dù rằng những điều tốt đẹp và tôi chỉ như những đường thẳng song song. Nhìn thấy nhau, nghe thấy nhau, đứng bên cạnh nhau nhưng chẳng bao giờ xoay đổi được vận mệnh của đối phương.
Đơn Dương không biết được điều này. Anh cũng không biết rằng tôi vừa trải qua một cơn đau trong mơ. Cũng có thể đối với anh mọi giấc mơ đều đẹp. Hơn nữa, giấc mơ của một cô gái thì không có quyền đen tối hay u uất. Cô gái ấy phải ngồi giữa một vùng nắng đầy, tóc dài xõa ra trong không gian trong lành của buổi mai, cười rạng rỡ như một bông hoa hướng dương dưới ánh mặt trời. Anh mong tôi có thể là một cô gái như thế.
Bên ngoài phong thư, Đơn Dương để lại cho tôi số điện thọai của anh. Anh không nói ra nhưng muốn tôi tự hiểu, lúc nào anh cũng có thể nghe thấy tôi.
Nhưng tôi thì đã giấu đi Thiên sứ của riêng mình.
Đơn Dương, anh không thể biết, tôi đang ngồi giữa một khu vườn. Nơi đây rất im ắng, rất thích hợp cho những ai muốn lắng nghe nhịp tim của chính mình. Chẳng ai tin rằng trái tim có thể trò chuyện. Hơn nữa còn có thể nhảy múa. Nhưng trái tim của tôi chính là như thế. Nó như một người bạn, có thể cùng khóc, cùng vui, cùng cười với tôi.
Đơn Dương, hôm đó là tháng sáu, hôm đó trời có mưa, hôm đó tôi đã ngủ quên đi trong cửa tiệm của mình. Vì thế mà tôi còn đang phân vân lắm. Tôi không rõ một Thiên sứ đích thực thì sẽ có những quyền năng nào? Người ấy có thể đi vào trong giấc mơ mệt mỏi của tôi không? Có thể ôm lấy tôi, dẫn tôi đi tìm gốc cây ngô đồng có băng ghế nhỏ? Có thể nói ra những lời khiến trái tim tôi đau đến mức ngừng ngay việc nhảy múa?
Nếu có thì Đơn Dương à, tôi đã yêu rồi. Tôi xin lỗi. Tôi biết là mình không nên như thế. Nhưng anh hãy yên tâm. Tôi vẫn ổn. Cuộc sống rất tốt, việc làm cũng rất tốt, cũng đã tìm được chương trình phát thanh khác hay hơn Thư Xanh nhiều lần. Mọi thứ đều rất tốt, chỉ một việc duy nhất là không tốt. Tôi đã yêu một người thanh niên giống như Thiên sứ.
Không. Đối với tôi, anh ta chính là Thiên sứ.
Đơn Dương, anh không thể biết, tôi đã yêu một Thiên sứ. Và sẵn lòng chờ đợi. Nhưng tôi chờ mãi, chờ mãi, cũng chẳng một ai chịu xuất hiện, chịu nói với tôi một câu đơn giản rằng,
Này Miên, thôi ngay đi, ngừng ngay đi, tình yêu này ngu ngốc quá. Từ bỏ nó đi.
Chapter 8 : Thế giới lõm
Chap 8
Thế giới lõm
AJ
Một ngày kia, cậu sẽ biết thế nào là sự thật.
Trước đó, hãy mang tôi theo.”
Al vò nát cái mền xanh rêu vốn tơi tả.
Lần thứ n suốt 17 năm qua, cậu thức dậy, không phải với một câu trả lời trong đầu.
- Gazelle ?
Có tiếng kêu vọng xuống từ gác xếp. Một cái đầu từ đó thò ra, phà một hơi khói thuốc lãng đãng. Những lọn tóc đỏ loăn xoăn đu đưa qua lại. Liền sau đó, chiếc túi da cũ kỹ bị ném phịch xuống sàn làm mấy cái nẹp gỗ rung lên bần bật.
- Sáng rồi, biến khỏi giường mau ! – Simone quát lên the thé với cái giọng ồm ồm của mình. – Ra ngoài kiếm việc gì đó mà làm. Và đừng để bị khiêng về nữa đấy !
Đáp lại ông ta là tiếng cậu ngáp dài ngáp ngắn. Cậu đứng lên vươn vai, hít một hơi thật sâu đến căng bụng. Rồi cậu vuốt lại cái áo sơ mi sọc ca rô treo đầu giường. Trời đã sáng hẳn, nhưng căn phòng vẫn còn tối lắm. Căn phòng không có cửa sổ. Vì thế cậu ném tất cả những thứ đồ-dùng-khi-ngủ vào một góc để lục tìm cái đáng mặc khi ra đường. Hô, chiếc quần jean bạc màu của cậu xem ra vẫn còn thơm chán ! Cậu cúi xuống xỏ thêm đôi sandal với cái quai sắp đứt để hoàn thiện dáng vẻ bụi đời của mình. Cuối cùng, cậu tự buộc lại đuôi tóc như một thợ làm đầu nghiệp dư.
Xong đâu đấy, Al choàng cái lẽ ra đã từng là áo khoác lên người, đeo cái túi da và định leo lên gác xếp.
- Còn chưa đi à ?
Simone đạp rầm rầm trên mái. Ông lại ngứa tay phóng xuống một cây cọ vẽ tưa đầu.
Al vội vàng nhảy phóc qua thành cầu thang. Trước khi đi, cậu nhìn quanh quất rồi đưa chân đạp vào đống chăn nệm tung tóe.
Đôi mắt đen của Al không chớp lấy một cái.
- GAZELLE !
Cậu kịp nhoài người ra khỏi cửa trước khi bị một thứ gì khác quẳng xuống đầu.
Al Gazelle, 17 tuổi.
Lí lịch của cậu, chỉ có thế.
- Ngoài cái tên này ra, cậu không còn gì khác sao ?
Như mọi ngày, Al bước chân vào cái quán thứ n trong thành phố.
Al ngước nhìn ông chủ quán, người vừa đặt cả ly nước lạnh ngắt lên tờ giấy trắng ghi tên cậu. Nước thấm ướt nó và xuyên qua đó, cậu có thể thấy mặt bàn. Ông ta hỏi đi hỏi lại mãi một câu như thế cho đến khi phát ngấy với cái lắc đầu của cậu. Sau chừng năm phút đồng hồ, Al định rút tờ giấy lại, nhưng ông ta đã nhanh tay giật lấy. Al nhún vai. Ông trợn mắt đáp lại bằng một giọng gay gắt – như hầu hết những giọng khác mà cậu thường nghe :
- Cậu biết đấy, tôi không thể thuê cậu. – Ông ta ném cho hắn cái nhìn khinh miệt – Làm sao tôi dám dính líu đến một kẻ có lại lịch không rõ ràng ?
Nói xong, ông ta vò nát tờ giấy, quẳng vào sọt rác và đi vào trong.
Al trông thấy đôi mày của cô tiếp viên đứng gần đó hơi cau lại.
Nên, cậu tọng một viên kẹo bạc hà vào mồm, quyết định bước ra.
Al nằm duỗi chân trên một băng đá trong công viên. Trời hôm nay, như mọi ngày, cũng mang một màu xanh u tối. Từ vị trí này cậu luôn có thể nhìn rõ những đường mây vằn vện. Thi thoảng cậu lại để ý tiếng kêu reng réc xa xăm mà cậu cho là của một loài chim. Tiếng chân lộp cộp trên nền đất. Tiếng cỏ khô xao xác đập vào bên tai. Tiếng những cành cây quệt vào nhau như những cây cọ của Simone khi vẽ tĩnh vật. Tiếng gió phì phì trên mặt cậu và dưới lưng cậu. Tiếng răng rắc của những thứ sắp gãy khi vào đông. Tất cả, dịu dàng đắp kín cái băng đá lạnh cứng trong tiết trời rét mướt.
Cậu nhắm mắt lại.
“Này, đừng đắn đo nữa !
Một ngày kia, cậu sẽ biết thế nào là sự thật.
Trước đó, hãy mang tôi theo.”
Cậu là kẻ lang thang.
Ít ra thì, cậu nghĩ thế và tự cho mình là thế.
Nhưng nếu phải mang theo, cậu còn biết mang theo ai nữa ?
Cuộc sống này, bầu trời này, cả cái băng đá cậu đang nằm, tất cả đều không thực.
Và cậu, cậu biết mình không thực.
Không có chút suy nghĩ nào trong cái đầu trống rỗng của Al cho thấy cậu tồn tại.
Cậu là ai cơ chứ ?
Công tử của một dòng tộc đã tán gia bại sản ? Kẻ hầu của một lão già vương giả ? Người làm vườn của một gia đình nhỏ ở miền bắc Luân Đôn ? Tay ăn chơi đã lưu lạc qua mười tám nước Châu Á ? Hoặc tệ hơn, một tên bịp bợm đang bị truy nã toàn cầu ?
Nhưng dù là tên bịp bợm, thì cậu vẫn có cả mớ hồ sơ trong ngăn kéo của cảnh sát.
Còn Al, chẳng có gì cả.
Cậu là kẻ thất nghiệp đang rong ruổi trên đường phố hàng ngày với những tờ giấy nhỏ chỉ có vỏn vẹn một cái tên, nhưng thậm chí chẳng nhớ để mà quay lại mỗi khi ai đó gọi mình. Cậu là kẻ đã vào ngần ấy quán hàng để xin một chân rửa bát và hắn cũng bị ngần ấy ông chủ từ chối. Cậu là kẻ thường ngủ bờ ngủ bụi và từng có thành tích đánh nhau. Trong vòng ba năm, cậu đã lang bạt qua cả chục thành phố lớn của Châu Âu và không có ý định dừng lại. Cậu không có nơi ở nhất định. Mỗi ngày, cậu tích tụ trí nhớ của mình một ít bằng cách học thuộc tên các con đường. Cậu là kẻ hay khoác chiếc ba lô xám trên vai và lặng thinh đi qua một cô nàng gợi cảm mà chẳng thèm ngoái đầu. Cậu sống vo ve qua ngày trên những băng đá, gặm những ổ bánh mì rỗng ruột. Cậu ngập chìm trong lớp bụi bặm của thành thị muôn màu.
Cậu là Al Gazelle.
Cho đến khi cậu mơ thấy giấc mơ đó.
Ai đó bảo rằng cậu phải thay đổi.
Nhưng, kẻ chưa từng tồn tại sẽ nghĩ mình cần thay đổi cái gì ?
.
.
.
Al phải về. Về nơi mà cậu ngủ tạm. Cậu đang sống cùng với một gã họa sĩ nghèo kiết xác – mà cậu chẳng biết vì sao mình quen được – trong căn hộ lép kẹp ở một khu ổ chuột đầy tệ nạn. Nhưng ít ra thì ở đó còn có chăn.
Một ngày kia, cậu sẽ biết thế nào là sự thật.
Trước đó, hãy mang tôi theo.”
Al Gazelle choàng tỉnh.
Màn đêm sụp xuống xung quanh cậu. Cậu chồm dậy, nhìn quanh quất và nhận ra ánh đèn neon mù mờ phát ra từ căn gác xép.
Cậu đã về.
Nhưng, làm cách nào mà cậu trở về căn hộ ?, Gazelle tự hỏi. Rõ ràng, cảm giác lạnh buốt của băng đá vẫn còn vẹn nguyên sau lưng cậu.
Al đưa tay đấm nhẹ vào cột sống.
- Mày làm quái gì mà ngủ li bì cả hai ngày nay thế ?
Cậu chợt nghe giọng Simone càu nhàu. Có tiếng muỗng kim loại chạm nhẹ vào thành cốc.
- Tao đã bảo đừng để bị khiêng về mà. – Lão họa sĩ quay lại đưa Al một thứ nước gì đó màu xanh trong veo như mắt mèo – Trông mày kìa, cứ như một con chó vừa thoát khỏi bánh xe tải. Tao đã thử tưởng tượng tới cảnh mày khóc lóc như một đứa con gái khi về tay không mà van xin tao, nhưng coi bộ mày còn ngon lành chán. Uống đi !
Cậu nhìn ông bằng đôi mắt nâu nhạt. Từng giọt, từng giọt ngòn ngọt tan ra đầu lưỡi cậu.
- Đừng có giữ khoảng cách với tao bằng cái nhìn ngu ngốc đó. – Ông ta bực bội ném cái muỗng vào một góc. – Mày biết đấy, chẳng ai ưa đôi mắt của mày đâu. Bộ dạng của mày luôn làm người khác khó chịu. Tao nghĩ tao đã hiểu lí do vì sao mày luôn bị từ chối.
- Vì sao tôi luôn bị từ chối ?
Al đột nhiên hỏi, và Simone đột nhiên nhìn.
- Mày nói đấy à ? – Ông gật gù – Thế mà tao cứ tưởng mày chỉ biết trơ mắt ra nhìn cơ đấy.
- Vì sao tôi luôn bị từ chối ?
Al Gazelle lặp lại câu hỏi.
Simone không nói gì. Ông lặng lẽ bước tới nhặt cái muỗng và đem nó đi rửa. Al nhìn theo, bất giác trong lòng dâng lên sự giằng xé ghê gớm. Có cái gì đó đang nhảy múa hỗn loạn trong đầu cậu. Nhảy múa hỗn loạn, và khiến cậu sợ mình sắp quên mất tên những con đường.
- Mày làm cái quái gì vậy ?
Simone la lên khi cậu thô bạo túm lấy cổ áo ông. Đó là lần đầu tiên ông thấy màu nâu của mắt cậu trong lành đến thế. Trong lành đến nỗi ông hoàn toàn có thể nhận ra sự đau đớn nằm sâu dưới đôi đồng tử kia.
- Vì sao tôi luôn bị từ chối ?
- Vì mày làm người khác cảm thấy khó chịu. – Ông dừng lại khi cậu ta nới cổ áo mình ra một chút. Al đang chau mày. Cậu, mà cũng có lúc như thế này sao ? – Buông ra ! – Ông hét lên – Tao đã bảo mày làm người khác khó chịu mà !
Cậu làm thinh, ngồi phịch xuống giường. Mấy nếp nhăn trên tấm trải giường loang lổ chắp vá giãn ra. Cậu ngồi đó với một sự ray rứt đến kì lạ. Lần đầu tiên cậu bị bảo là nguyên nhân làm kẻ khác khó chịu. Lần đầu tiên cậu cảm thấy khó chịu vì chuyện đó.
Al Gazelle, vốn dĩ không liên can đến ai, hà cớ gì lại là cái gai trong mắt kẻ khác ?
Simone úp chiếc cốc lên cái giá ba chân. Ông ngồi xuống chiếc ghế gỗ gần đó, thừ người rất lâu. Kẻ tên Al Gazelle, đang lặng đi trước mặt ông. Cậu ta là cái bóng mà ông đã mang về, một cách không tự chủ, từ một xó xỉnh nào đó trong một khu ổ chuột nào đó. Năm ấy, cậu ta khoảng mười bốn tuổi. Mặc dù là một tên lang thang – hay chí ít trông Al là như thế – cậu vẫn khá sạch sẽ. Và cậu không hút thuốc. Cậu ta, một kẻ lang thang, rất ý thức được tình trạng của mình.
Nhưng, điều gì đã khiến ông làm vậy ?
Al đang có mặt ở đây.
Simone đứng dậy. Đã đến lúc rồi.
- Cầm lấy. – Lão họa sĩ trở vào, và trở ra với một mảnh phong bì trên tay. Cái màu vàng úa như lá khô cho thấy nó đã quá cũ, nhưng nó vẫn phẳng lì. Rõ ràng ông lão đã giữ nó rất kĩ. – Cầm lấy và biến đi.
Al giật mình khi ông già đập nhẹ lên vai cậu. Cậu ngạc nhiên nhìn chiếc phong bì nhỏ mà ông vừa trao. Có một mảnh giấy gấp làm tư bên trong. Khi vừa chạm vào nó, cảm giác lẫn lộn trong đầu cậu tự nhiên giảm đi đôi chút.
Chúng tôi biết ai đang tìm kiếm những gì.
Bất cứ điều nào cũng có thể cản trở cậu đến với cái mà cậu đang khao khát.
Vì vậy, hãy đến nơi mà cậu muốn đến nhất.
Một chút gia vị cho cái đầu trống rỗng của cậu.
Lâu đài Đông Tím.”
Đêm ấy, mặt trăng chiếm lĩnh bầu trời.
Al nhoài người ra khỏi gác xép. Một làn gió ập vào mặt cậu, rít lấy mái tóc dài của cậu. Cậu cảm thấy sống mũi mình tê lại.
Bên trong, Simone vẫn đang càu nhàu.
- Này, gói ghém hành lí cho kĩ vào. Tao không muốn nhìn thấy bất cứ đồ đạc nào của mày còn rơi rớt trong nhà tao đâu đấy.
Ông nói khi cậu vác chiếc ba lô xám quen thuộc lên vai.
- Còn nữa, đây là vé chuyến xe cuối cùng đêm nay. Nếu mày làm mất thì hãy cố mà van vỉ thằng cha soát vé, hiểu chứ ?
- Tôi sẽ không bị từ chối nữa, phải không ?
- Làm sao tao biết được. Tao đã bảo, mày làm người khác thấy khó chịu mà.
- Cả ông cũng vậy ư ?
- Mày là đồ ngốc à ! – Simone đứng ngay ngưỡng cửa, khoanh tay. – Mày nghĩ tao có thể sống chung với kẻ làm tao chướng mắt hay sao ?
Al mỉm cười, lao đi trong đêm như cơn gió.
Đó là lần đầu tiên cậu có thể mỉm cười.